Today: 11 Jul 2011
  Trang chủ | Giới thiệu | Định vị | Góp ý | Giúp đỡ | English

Chính phủ quản lý
Tổ chức bộ máy Chính phủ
Luật pháp Việt Nam
Tin tức
Chào mừng đến Việt Nam
Kinh tế
Giáo dục - Đào tạo
Hợp tác Quốc tế
Khoa học - Công nghệ - Môi trường
Phát triển xã hội
Website phục vụ phát triển
TỶ GIÁ GIAO DỊCH
DIỄN ĐÀN
HỎI/ĐÁP
Hà Nội 18 - 25 oC
Huế 19 - 25 oC
Đà Nẵng 22 - 29 oC
Hồ Chí Minh 25 - 36 oC
  Tổ chức bộ máy Chính phủ

Bộ Ngoại giao Việt Nam

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, ngoại giao luôn đóng vai trò quan trọng và mang đậm bản sắc dân tộc. Lịch sử Việt Nam cho thấy mỗi khi phải chống lại các cuộc chiến tranh xâm lược của ngoại bang thì ngoại giao lại kết hợp chặt chẽ với quân sự.

Chính vì thế, nền ngoại giao Việt Nam mang tính chiến đấu cao đồng thời luôn coi trọng hoà bình, hoà hiếu để "tắt muôn đời chiến tranh". Trước khi chiến tranh, người Việt Nam thường cầu hoà, dùng ngoại giao để ngăn ngừa, chỉ khi cuộc chiến không tránh khỏi mới kiên cường chống giặc ngoại xâm. Nhưng sau khi chiến thắng vẫn cấp lương giúp thuyền để tàn quân địch về nước, cử sứ thần sang phương Bắc xin thụ phong và nộp cống để quan hệ láng giềng trở lại bình thường. Có thể nói bản chất của ngoại giao Việt Nam là yêu chuộng hoà bình và hoà hiếu và luôn coi trọng đạo lý thể hiện "đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo". "Trong đế ngoài vương" là đặc điểm nổi bật của ngoại giao truyền thống, hết sức khôn khéo để xây dựng và bảo vệ đất nước.

Ngoài ra, ngoại giao Việt Nam còn thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc. Trong lịch sử Việt Nam còn lưu danh nhiều tên tuổi ngoại giao trong đó có Lê Văn Thịnh, Mạc Đĩnh Chi, Giang Văn Minh, Nguyễn Trãi, Nguyễn Biểu, Phùng Khắc Khoan, Lê Quí Đôn, Ngô Thì Nhậm...đã thể hiện không chỉ là những nhà ngoại giao kiệt xuất, thông minh, tài trí ứng đối mà còn đề cao tinh thần tự tôn dân tộc.

Trong lịch sử hiện đại, ngoại giao Việt Nam đã biết kết hợp hài hoà giữa truyền thống ngoại giao trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước với tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, hiện thân của chủ nghĩa yêu nước và truyền thống văn hoá, nhân ái của người Việt Nam, sự kết hợp hài hoà văn hoá phương Đông và phương Tây. Đó là nền ngoại giao hoà bình, hoà hiếu, hữu nghị, thuỷ chung.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập - bản Tuyên ngôn mang tính chất một thông điệp ngoại giao quan trọng đầu tiên, khẳng định trước toàn thế giới "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lập và thực sự đã trở thành một nước tự do, độc lập". Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta, đồng thời cũng đặt nền móng cho một nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, tiếp nối và vận dụng sáng tạo những tinh hoa ngoại giao của tổ tiên - ngoại giao Hồ Chí Minh.

Ngay từ những ngày đầu tiên sau khi giành được độc lập, Chính phủ Việt Nam đã khẳng định chính sách ngoại giao hòa bình, hữu nghị, hòa hiếu với các dân tộc, sẵn sàng có quan hệ "thân thiện với các nước tôn trọng nền độc lập của Việt Nam", "Người Việt Nam gác sang một bên tất cả những khác biệt trong quan điểm chính trị, đoàn kết với nhân dân các nước tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của nhau, duy trì hòa bình ổn định giữa các nước trong khu vực và thế giới, thực hiện độc lập dân tộc, tôn trọng công lý và luật pháp quốc tế".

Cách mạng mới thành công, đất nước kiệt quệ, muôn vàn khó khăn chồng chất, lực lượng vũ trang còn non yếu, lại phải đối phó một lúc với cả giặc ngoài lẫn thù trong, nền độc lập vừa mới giành được như "ngàn cân treo sợi tóc", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng tài tình sách lược ngoại giao, phân hóa hàng ngũ địch, đưa cách mạng ra khỏi tình thế hiểm nghèo, tranh thủ từng ngày hòa bình bảo toàn chủ quyền và nền độc lập còn non trẻ, tranh thủ thời gian chuẩn bị mọi mặt để đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ. Hoạt động ngoại giao thời kỳ này vô cùng phức tạp, phong phú và sôi động đã trở thành mẫu mực về chủ trương đấu tranh cùng một lúc với nhiều lực lượng đối địch.

Vì độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc, Việt Nam đã phải tiến hành liên tiếp hai cuộc kháng chiến lâu dài gian khổ. Trong suốt hai cuộc kháng chiến anh dũng đó, ngoại giao đã góp phần phá thế bao vây của kẻ địch, mở rộng quan hệ quốc tế làm cho thế giới hiểu biết tình hình Việt Nam, làm sáng tỏ chính nghĩa của dân tộc, vừa biểu thị quyết tâm bảo vệ độc lập và thực hiện thống nhất đất nước, vừa thể hiện nguyện vọng hòa bình của nhân dân Việt Nam. Với tư cách là một mặt trận, ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ và nhịp nhàng với mặt trận quân sự và mặt trận chính trị, góp phần giành thắng lợi từng bước, tiến tới thắng lợi hoàn toàn, bảo vệ trọn vẹn nền độc lập của dân tộc, thống nhất của Tổ quốc.

Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng và thống nhất, chưa kịp phục hồi kinh tế bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Việt Nam đã phải đối phó với âm mưu của các thế lực thù địch ra sức cô lập Việt Nam về chính trị và bao vây cấm vận ta về kinh tế...Trong lúc đó Việt Nam lại phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài. Để vượt ra khỏi khó khăn chồng chất, Việt Nam đã tiến hành công cuộc Đổi mới mọi mặt đời sống xã hội. Công cuộc đổi mới tiến hành chưa được bao lâu thì cuối những năm 80, các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, Liên xô tan rã. Trước tình hình đó, Đại hội Đảng lần thứ VII đề ra đường lối đối ngoại "độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế", xác định nhiệm vụ đối ngoại là "giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội". Nhiệm vụ đối ngoại là ra sức phá thế bao vây cấm vận và cô lập của kẻ thù, tranh thủ càng nhiều bạn bè càng tốt, gắn Việt Nam với khu vực và thế giới. Với phương châm "Việt Nam sẵn sàng là bạn của các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình và phát triển", ngoại giao đã tích cực góp phần vào thay đổi tình hình có lợi cho đất nước, quan hệ quốc tế của Việt Nam được mở rộng ra tất cả các hướng, trên nhiều tầng, nhiều nấc và thu được nhiều kết quả thiết thực, vị thế quốc tế được nâng cao.

Đến Đại hội IX của Đảng (4/2001), đường lối đối ngoại được bổ sung và phát triển lên một nấc mới, theo tinh thần Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.

Nhiệm vụ đối ngoại trong giai đoạn hiện nay là tiếp tục giữ vững môi trường hoà bình và tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Mở rộng quan hệ nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, các trung tâm chính trị, kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực theo các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực, bình đẳng và cùng có lợi, giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thương lượng hoà bình, làm thất bại mọi âm mưu và hành động gây sức ép, áp đặt cường quyền.

Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường.

Coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng. Nâng cao hiệu quả và chất lượng hợp tác với các nước ASEAN, cùng xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, không có vũ khí hạt nhân, ổn định, hợp tác cùng phát triển.

Tiếp tục mở rộng quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, các nước độc lập dân tộc, các nước đang phát triển ở châu á, châu Phi, Trung Đông và Mỹ la-tinh, các nước trong Phong trào không liên kết, ủng hộ lẫn nhau cùng phát triển, phối hợp bảo vệ lợi ích chính đáng của nhau.

Thúc đẩy quan hệ đa dạng với các nước phát triển và các tổ chức quốc tế. Đẩy mạnh hoạt động ở các diễn đàn đa phương.

Tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu. ủng hộ cuộc đấu tranh nhằm loại bỏ hoàn toàn vũ khí hạt nhân, vũ khí sinh học và mọi phương tiện chiến tranh hiện đại khác giết người hàng loạt, bảo vệ hoà bình, chống nguy cơ chiến tranh và chạy đua chiến tranh: tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự chọn con đường phát triển của mỗi dân tộc trên thế giới, góp phần xây dựng trật tự chính trị, kinh tế, dân chủ, công bằng.

Củng cố và tăng cường quan hệ đoàn kết và hợp tác với các đảng cộng sản và công nhân, với các đảng cánh tả, các phong trào giải phóng dân tộc và độc lập dân tộc, với các phong trào cách mạng và tiến bộ trên thế giới.

Tiếp tục mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền.

Mở rộng hơn nữa quan hệ đối ngoại nhân dân, tăng cường quan hệ song phương với các tổ chức nhân dân các nước, nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ và quốc tế, góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới.

Cho đến nay, Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với 167 nước, có quan hệ bình thường với tất cả các nước lớn, thiết lập khuôn khổ quan hệ ổn định lâu dài với các đối tác chính, có quan hệ thương mại với hơn 150 nước và vùng lãnh thổ. Việt Nam là thành viên tích cực của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực như Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết, Hiệp hội Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Cộng đồng các quốc gia sử dụng tiếng Pháp... và đang tiến hành đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Một số bài học chính rút ra từ hoạt động thực tiễn của nền ngoại giao Việt Nam:

Nhân tố có ý nghĩa quyết định đầu tiên bảo đảm thành công trên mặt trận ngoại giao là việc phát huy tinh thần độc lập tự chủ và đặt lợi ích quốc gia lên trên hết. Hoạt động ngoại giao phải quán triệt tinh thần dựa vào sức mình là chính, phải có tư duy độc lập, biết tiếp thu kinh nghiệm và trí tuệ của các dân tộc nhưng ứng dụng phù hợp với điều kiện đặc thù của nước mình, tự mình quyết định đường lối chủ trương và hành động của mình. Thực tế chứng minh, do nắm bắt xu thế của thời đại, quy luật vận động của tình hình thế giới, biết đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, ngoại giao Việt Nam đã xác định đúng mục tiêu và chính sách cụ thể trong từng giai đoạn lịch sử trong kháng chiến cũng như trong thời kỳ đổi mới.

Cũng như trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước, ngoại giao đã thực hiện tốt vai trò cầu nối gắn sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại tạo thành sức mạnh tổng hợp, bảo đảm giành thắng lợi trong mọi tình huống. Với nguyên tắc này, trong thời chiến, Việt Nam đã làm thất bại những kẻ thù lớn mạnh hơn mình gấp bội, ở thời bình xây dựng đất nước tuy sức mạnh vật chất còn yếu, trình độ phát triển còn thấp, đất nước còn nghèo, Việt Nam đã tạo được thế và lực mới, trở thành một đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế.

Ngoài ra một trong những thành công của ngoại giao Việt Nam là kiên trì thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, hoà hiếu, coi trọng đạo lý, đề cao chính nghĩa. Hiện nay tư tưởng này đã được thể hiện trong phương châm đối ngoại "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển".

Website Bộ Ngoại giao Việt Nam - (16/07/2004)


More
Chính phủ quản lý
Tổ chức hệ thống chính phủ
Quốc hội
Tổ chức Chính phủ
Trang Web của các bộ
Các tổ chức xã hội & và chính trị khác
Các tổ chức phi chính phủ
Luật pháp Việt Nam


Trang chủ  |   Giới thiệu  |   Định vị  |   Phản hồi  |   Giúp đỡ

Số lượt truy cập: 8569775 © Copyright 2003 Vietnam Development Gateway, All right Reserved, Legal & Privacy Notices.
E-mail: vncgteam@vnn.vn  —   Tel: 84-4-2129161