Today: 31 Dec 2005
  Trang chủ | Giới thiệu | Định vị | Góp ý | Giúp đỡ | English

Giáo dục - Đào tạo
Định hướng chiến lược Giáo dục đào tạo 2001-2010
Phát triển giáo dục vùng sâu vùng xa và vùng khó khăn
Đào tạo từ xa
Các chương trình khuyến học
Tin tức
Chào mừng đến Việt Nam
Kinh tế
Chính phủ quản lý
Hợp tác Quốc tế
Khoa học - Công nghệ - Môi trường
Phát triển xã hội
Website phục vụ phát triển
TỶ GIÁ GIAO DỊCH
DIỄN ĐÀN
HỎI/ĐÁP
Hà Nội 14 - 24 oC
Huế 18 - 23 oC
Đà Nẵng 19 - 27 oC
Hồ Chí Minh 22 - 32 oC
Phát triển giáo dục vùng sâu vùng xa và vùng khó khăn

Cái chữ nơi cổng trời

Để đến được Xín Cái (Mèo Vạc, Hà Giang) phải đi qua sáu "cổng trời". Ở nơi đây, các thầy cô giáo đang quyết tâm hoàn thành phổ cập trung học cơ sở trong năm tới, không chậm hơn các đồng nghiệp khác trong tỉnh, dù việc này còn gian lao hơn cả "gieo ngô trên đá".

Cả vùng cao nguyên đá Mèo Vạc, Ðồng Văn đang vào mùa hạn. Ðã ba tháng nay trời không hề mưa. Nước thiếu đến nỗi các bể nước dân sinh dọc đường chúng tôi đi hầu như đều cạn kiệt. Một xô nước sạch được bán ở quán ven đường có giá tới 7.000 đồng. Ấy vậy mà nơi chúng tôi sẽ đến mới là trung tâm của vùng hạn...

Hóa ra xã Xín Cái (Mèo Vạc), nơi chúng tôi đến lần này còn cao hơn cả đỉnh Mã Pí Lèng (có nghĩa là: ngựa thở ra khói). Tại Lùng Vần Chải, trung tâm xã, độ cao là hơn 1.700 m và cách thị xã Hà Giang 187 km. Lên đến nơi này phải đi qua tới sáu "cổng trời". Áp suất không khí thay đổi liên tục khiến chai nhựa đựng nước uống mang theo dùng dọc đường của tôi quăn lại như bị ai cố tình bóp méo. Cả xã Xín Cái có hơn 3.600 nhân khẩu, 70% là người Mông, hơn 20% người Lô Lô, số còn lại là các dân tộc khác như Dao, Dáy, Tày, Xuồng... Tuyệt đối không có một hộ người Kinh. Xã vẫn còn non nửa số hộ thuộc diện đói nghèo, dẫu rằng điện - đường - trường - trạm ở trung tâm xã đều được kiên cố hóa theo các chương trình của Nhà nước.

Trường THCS Xín Cái khá khang trang, nằm ngay ở trung tâm mới của xã. Trường được xây kiên cố hai tầng, đẹp không kém một ngôi trường ở miền xuôi nào. Ngoài "đại bản doanh" ở Lùng Vần Chải này, trường còn có tám phân trường tại các bản, chỉ nghe tên đã thấy đầy thương khó: Lùng Thúng, Ngài Chồ, Sử Nhè Lử, Sín Chải...

Từ trung tâm xã đến điểm trường xa nhất Ngài Chồ là hơn 16 km, các giáo viên phải đạp đá, leo núi mất đúng một ngày đường. Trường đang trong giờ học. Ðiều đầu tiên khiến chúng tôi bất ngờ khi vào thăm là cảnh một cô giáo vừa bế con, vừa dạy học. Cô ngượng nghịu giải thích: Ở đây không có nhà trẻ, trường lại thiếu giáo viên nên những hôm không gửi được con cho ai, chị vẫn phải địu cháu lên lớp.

Tại lớp học bên cạnh, một thầy giáo còn trẻ hơn nhiều học sinh đang đứng lớp. Hỏi ra thì còn kinh ngạc hơn, đó là... thầy hiệu trưởng! Ðó là thầy Lê Văn Dũng, sinh năm 1978, quê ở Mê Linh - Vĩnh Phúc. Năm 2002, sau khi tốt nghiệp khoa văn, Trường ÐH Sư phạm Hà Nội II thầy đã tình nguyện lên đây công tác. Ðầu năm học vừa qua, thầy được đề bạt làm hiệu trưởng. Thầy Dũng cho chúng tôi biết: Hiện Trường THCS Xín Cái có 109 học sinh phổ thông học trong bốn lớp và 175 học sinh phổ cập. Cả trường có 11 giáo viên nhưng lại có đến 12 lớp, do đó các thầy, cô cứ phải căng sức ra mà dạy ba ca, mà chia nhau đi bản. Vậy nên thường trực tại trường trung tâm lúc nào cũng chỉ có 3-4 người. Hiệu trưởng cũng giống giáo viên, đi bản là nghĩa vụ.

Sau bữa cơm chiều, chúng tôi được thầy Dũng mời "dự giờ" lớp phổ cập buổi tối do thầy đứng... hai lớp. Một lớp của thầy, còn lớp kia của thầy Chiến nhưng thầy Chiến đi bản chưa về kịp, cả trường không còn ai để mà thay. 10 giờ đêm lớp tan, học trò lục tục đốt đuốc về bản, chúng tôi tiếp tục xuống thăm "ký túc xá" của các em "học sinh chính quy" ở nội trú. Trường Xín Cái được Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Hà Giang đỡ đầu. Các anh vừa hỗ trợ cho các em hơn một tấn gạo và một số bàn ghế. Ðêm vùng cao lạnh thấu xương, vậy mà hơn 60 đứa trẻ ở trong "ký túc xá" chỉ phong phanh với những bộ quần áo mỏng tanh. Chúng phải kê sát phản nằm lại với nhau và ôm nhau cho đỡ lạnh... Nhìn các em, tôi lại nghĩ về Hà Nội, nơi chúng tôi đang công tác, nơi có những ngôi trường khang trang và có những đứa trẻ được cha mẹ đưa đi đón về, trời se lạnh đã ngộp trong áo ấm đến toát mồ hôi và không thể cầm lòng.

Những ngày này thầy và trò Xín Cái hiện đang dồn sức tập trung cho mục tiêu hoàn thành phổ cập trung học cơ sở trong năm tới, không hề chậm chân so với các đồng nghiệp khác trong tỉnh. Vất vả, khó khăn nhất là làm sao giữ được học trò đến lớp, không bỏ học giữa chừng. Những người trong độ tuổi phổ cập lại thường là các lao động chính trong các gia đình, nếu đi học thì ai đi nương, ai đi kiếm tiền, kiếm ngô nuôi cả nhà, cái chữ không thể làm no bụng. Vậy là xã huy động dân quân, cán bộ các ban, ngành và nhờ bộ đội biên phòng cùng phối hợp với các thầy, cô xuống từng bản, đến tận nhà, ra cả nương để vận động mọi người đi học. Ngày phải đi làm thì học tối, nhiều việc quá thì cán bộ làm giúp. Thậm chí xã còn ra chỉ thị: Ai không đi học thì phạt, ai bỏ học cũng phạt, phạt rất cao, 5.000 đồng một buổi!... Chung quanh chuyện phạt, thầy Dũng kể cho chúng tôi nghe một chuyện... không thể cười được. Ðó là lần "lực lượng đặc nhiệm" đến nhà Thò Mí Chí ở Sử Nhè Lử để "cưỡng chế" anh đi học. Bần thần một hồi rất lâu, Chí bảo với các thầy và các cán bộ "Tao chịu nộp phạt!". Rồi Chí giải thích, nhà Chí chỉ có mỗi Chí đi làm để nuôi cả nhà, bố mẹ đã mất, các em còn nhỏ cõng gùi nước còn xiêu vẹo, chưa đi nương được. Mỗi ngày Chí đi làm thuê được 12.000 đồng, nếu "nộp phạt" 5.000 đồng thì vẫn còn 7.000 đồng cho ba anh em sống chứ đi học thì chết đói. Các em Chí đi học là đủ rồi, Chí cũng đã học xong tiểu học, biết đọc chữ cái "Không tin các thầy cứ thử xem" nếu Chí đọc được thì "tha" cho Chí. Nghe vậy đúng là không ai có thể cầm lòng. Thế đấy, gieo chữ, trồng người ở miền đá này còn gian lao hơn trồng ngô trên đá là cái chắc.

Ngay sát sau lưng Trường THCS Xín Cái là tập thể giáo viên, một dãy nhà cấp bốn. Trừ thầy Dũng và thầy Kiên là hộ độc thân, tất thảy có bốn "tổ ấm". Tính cả trường tiểu học và trung học cơ sở cũng đã có đến bảy cặp vợ chồng cắm bản. Những mái ấm đơn sơ đến lạ lùng, chỉ vẻn vẹn hơn 10 m2, một giường đôi, một bộ bàn ghế nhựa chắp vá. Không có tủ, tất cả tài sản đều tập trung vào hai chiếc hòm, chắc là tài sản từ khi còn độc thân, kê đầu giường. Nhưng nhìn cảnh cô giáo Thoan (trường tiểu học) vừa bế con, vừa chăm chú soạn bài, rồi cảnh cô giáo Thu (trường THCS) gần 11 giờ đêm vẫn khoác chăn ngồi bên mâm cơm đợi chồng là thầy Chiến đi bản về để cùng ăn, tôi chợt hiểu tất cả đang hài lòng với hạnh phúc hiện tại của mình.

Trên đường từ Mèo Vạc đi Ðồng Văn, giữa đỉnh dốc Mã Pí Lèng - nơi mà từ đây nhìn xuống, dòng Nho Quế chỉ còn mảnh mai như sợi chỉ - có một nếp nhà tranh nhỏ và chênh vênh như tổ chim treo trên vách núi. Ðó là một tổ ấm điển hình của những mối tình "cắm bản". Chủ nhân của ngôi nhà đó là cô giáo Nguyễn Thị Lan và thầy Bình. Cả hai đều là giáo viên cắm bản, dạy học ngay ở lưng đỉnh "ngựa thở ra khói" này. Cô giáo Lan quê ở Thái Bình, tốt nghiệp sư phạm 10 + 2 tỉnh nhà xong, cô tình nguyện lên Hà Giang công tác. Cô kể: "Như là duyên phận, em gặp được nhà em, cũng là giáo viên miền xuôi lên đây công tác nên có tổ ấm này...". Vợ chồng cô Lan, thầy Bình đã có một cháu trai 5 tuổi. Căn nhà của họ giản dị tới mức tối thiểu, ngoài chiếc đài bán dẫn chạy bằng pin thì dường như căn nhà không có gì mang dấu ấn của cuộc sống hiện đại. Nhưng chúng tôi hiểu tại sao cô Lan lại vẫn bảo. "Chúng em là những người hạnh phúc"...

Nhân Dân - (05/01/2005)


More

Trang chủ  |   Giới thiệu  |   Định vị  |   Phản hồi  |   Giúp đỡ

Số lượt truy cập: 1621010 © Copyright 2003 Vietnam Development Gateway, All right Reserved, Legal & Privacy Notices.
E-mail: vncgteam@vnn.vn  —   Tel: 84-4-8532313