Today: 9 Nov 2007
  Trang chủ | Giới thiệu | Định vị | Góp ý | Giúp đỡ | English

Kinh tế
Tin tức
Chiến lược và kế hoạch phát triển
Đầu tư nước ngoài
Thương mại
Hội nhập kinh tế quốc tế
Doanh nghiệp
Tài chính ngân hàng
Nông nghiệp - Công nghiệp
Tin tức
Chào mừng đến Việt Nam
Giáo dục - Đào tạo
Chính phủ quản lý
Hợp tác Quốc tế
Khoa học - Công nghệ - Môi trường
Phát triển xã hội
Website phục vụ phát triển
TỶ GIÁ GIAO DỊCH
DIỄN ĐÀN
HỎI/ĐÁP
Hà Nội 18 - 25 oC
Huế 19 - 25 oC
Đà Nẵng 22 - 29 oC
Hồ Chí Minh 25 - 36 oC
  Doanh nghiệp

Để đẩy mạnh tốc độ phát triển doanh nghiệp ở nước ta

Năm qua, mặc dù bối cảnh trong nước và thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh ngày càng gay gắt, song tốc độ sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam tăng đáng kể so với trước. Tuy nhiên để khẳng đủ sức cạnh tranh thì các doanh nghiệp của ta còn khá nhiều bất cập.

Theo kết quả điều tra của Phòng Thương mại - Công nghiệp Việt Nam, năm 2005, gần 60% số doanh nghiệp có mức doanh thu tăng, trong đó 70% có mức tăng trên 10%. Nhiều doanh nghiệp đã tích cực chủ động hơn trong hội nhập, chất lượng kinh doanh của các doanh nghiệp được cải thiện đáng kể. Cộng đồng doanh nghiệp từng bước khẳng định được vai trò là "đội quân" chủ lực trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước.

Bên cạnh những thuận lợi, những năm qua các doanh nghiệp Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn. Nhiều vấn đề thuộc về môi trường kinh doanh đang ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp như sự bất cập của quy hoạch phát triển, yếu kém của thị trường bất động sản, khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp… Những bất cập này trở thành những lực cản không nhỏ đối với sự phát triển của các doanh nghiệp. Sự chênh lệch giữa các địa phương về năng lực điều hành kinh tế thể hiện qua chỉ số cạnh tranh về môi trường kinh doanh cũng là một vấn đề nan giải. Nhiều địa phương đã tạo được môi trường kinh doanh thông thoáng cho hoạt động của các doanh nghiệp, nhưng cũng không ít địa phương thực hiện việc này chưa hiệu quả. Tình trạng này đang cản trở quá trình hình thành thống nhất của hệ thống thể chế kinh tế thị trường, triệt tiêu nỗ lực cải thiện sức cạnh tranh của các doanh nghiệp.

Một vấn đề nổi lên khá rõ nét cần được kiên quyết chỉ đạo từ Nhà nước là cải cách doanh nghiệp nhà nước. Sau 14 năm, tính đến hết năm 2005, mới có 2.996 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá, chưa đạt được yêu cầu và tiến độ đề ra. Mặc dù hơn 90% số doanh nghiệp này hoạt động có hiệu quả, nhưng chỉ thu hút được 15,5% vốn cổ đông bên ngoài. Sự chậm trễ này có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình xây dựng đồng bộ các thể chế kinh tế thị trường. Sự phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp phần nào vẫn còn tồn tại. Tình trạng chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế chậm được cải thiện, đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội. Tăng trưởng kinh tế chưa phát huy được các yếu tố chiều sâu, chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước. Năng lực sản xuất của một số ngành, một số sản phẩm quan trọng, thiết yếu tăng chậm. Ngoài ra, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa đồng đều và chưa phát huy được thế mạnh trong từng ngành, từng vùng, từng sản phẩm. Tốc độ đổi mới công nghệ còn chậm. Nguồn cung cấp nguyên liệu và các yếu tố đầu vào cũng đang trở thành mối quan tâm đặc biệt của các doanh nghiệp. Mức độ phụ thuộc cao vào thị trường nguyên liệu, năng lượng và các yếu tố đầu vào quan trọng như thương hiệu, công nghệ,… đã làm giảm mạnh tính chủ động kinh doanh của các doanh nghiệp.

Để thực hiện thành công kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2010, việc xây dựng và phát triển doanh nghiệp với lộ trình cụ thể là việc làm cấp bách. Một số chuyên gia kinh tế cho rằng, xây dựng những chương trình quốc gia phát triển doanh nghiệp cần mang tính đột phá cùng với những giải pháp đồng bộ trong một số lĩnh vực trọng điểm. Chiến lược xây dựng cộng đồng doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân có khả năng cạnh tranh cao cần được coi là giải pháp đột phá, xuyên suốt. Với tầm quan trọng to lớn như vậy, chiến lược này phải được đặt ra và thực hiện trong khuôn khổ một chương trình quốc gia với sự tham gia của các bộ, ngành và được cụ thể hoá bằng chương trình hành động của từng địa phương. Chương trình này cần đặt trọng tâm vào 5 điểm sau:

1. Các doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao năng lực cạnh tranh, có giải pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu tối đa những thách thức sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Doanh nghiệp muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, thì việc giảm thiểu các phí tổn tiêu cực và thất thoát do bộ máy điều hành yếu kém, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng, tiếp cận và mở rộng thị trường,… là việc làm quan trọng và cấp bách.

2. Những doanh nghiệp qui mô lớn cần tập trung tạo dựng những thương hiệu Việt Nam, đưa hàng hoá Việt Nam thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường khu vực và thế giới. Một điểm yếu có thể thấy rất rõ ở các công ty Việt Nam là đang thiếu vắng những nhà lãnh đạo doanh nghiệp có tầm nhìn toàn cầu, có khả năng quản trị kinh doanh một cách khoa học, bài bản. Nhu cầu tạo lập một đội ngũ các nhà lãnh đạo doanh nghiệp tầm cỡ, có thể đảm đương những vị trí quan trọng trong các doanh nghiệp lớn đang rất cấp bách. Chính phủ cần có kế hoạch để từng bước hình thành đội ngũ doanh nhân này thông qua việc xác lập các chương trình hỗ trợ đào tạo phổ cập và nâng cao.

Bên cạnh việc xây dựng các tập đoàn, công ty lớn có khả năng tạo thương hiệu quốc gia, phát triển khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng là vấn đề quan trọng, Để hình thành ngày càng đông đảo các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tính linh hoạt cao, có khả năng thích ứng hữu hiệu với xu thế phát triển mạnh của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ, nhiệm vụ đặt ra là Nhà nước cần tiếp tục cải thiện các thủ tục hành chính, hệ thống thuế và các biện pháp trợ giúp khuyến khích chuyển các hộ kinh doanh cá thể sang hình thức tổ chức kinh doanh hiện đại và hiệu quả hơn.

3. Tập trung sức phát triển của một số ngành chọn lọc, mũi nhọn, đồng thời xây dựng mối liên kết giữa các doanh nghiệp Việt Nam với nhau và với doanh nghiệp nước ngoài để khẳng định vị trí của các doanh nghiệp Việt Nam trong hệ thống phân công lao động quốc tế, lựa chọn xây dựng các trung tâm nghiên cứu và phát triển. Chừng nào hàng hoá mang thương hiệu Việt Nam còn chủ yếu sử dụng lao động rẻ và tài nguyên không được tái tạo với giá trị gia tăng thấp, thì khó có thể hy vọng được việc tăng trưởng nhanh, mạnh, có chất lượng cao hay khả năng phát triển bền vững. Liên quan đến vấn đề liên kết kinh tế, việc hình thành các cụm, khu công nghiệp là việc làm cần được đẩy mạnh. Thông qua liên kết kinh tế, hệ thống công ty vệ tinh sẽ phát triển rộng khắp, qua đó việc phát huy lợi thế so sánh của từng vùng cũng như tạo việc làm, tăng thu nhập ngày càng nhiều. Nhưng về vấn đề này, phần lớn chúng ta mới chỉ quan niệm là giải quyết vấn đề mặt bằng sản xuất, chứ chưa phải là hình thức kinh doanh hiện đại để tạo giá trị gia tăng nhờ sự liên kết giữa các doanh, tiếp cận một số dịch vụ có liên quan để khai thác lợi thế cạnh tranh. Các địa phương cần quan tâm định hướng quy hoạch và tổ chức khu, cụm công nghiệp theo mô hình liên kết này.

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang đóng góp rất tích cực vào việc nâng cao năng lực sản xuất và xuất khẩu, nhưng hiện nay mối liên kết giữa các doanh nghiệp đó với các doanh nghiệp trong nước còn yếu. Vì vậy, không tận dụng được một cách có hiệu quả những lợi ích mà khu vực này mang lại. Hơn nữa, các công ty nước ngoài đang có khuynh hướng nhập các yếu tố đầu vào thay vì được sản xuất trong nội địa. Lý do chính, đó là sự yếu kém về chất lượng và khả năng cung ứng hàng nội địa so với hàng nhập ngoại. Để sản phẩm nội địa trở thành yếu tố đầu vào cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần được coi là một chiến lược quan trọng. Và, chiến lược đó nên thực hiện bằng chính sách áp đặt "tỷ lệ nội địa hoá" và thuế nhập khẩu linh kiện cao hơn nhập khẩu nguyên chiếc.

4. Đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước là một việc làm không nhỏ trong tiến trình phát triển doanh nghiệp. Nhiệm vụ này cần được gắn với việc phát triển khu vực dân doanh và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Việc thực hiện đòi hỏi phải có những biện pháp vĩ mô kiên quyết và dứt điểm. Mục tiêu chính của vấn đề này cần được coi là động lực để khơi thông dòng chảy của những nguồn vốn, tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng trên cơ sở từng bước hạn chế độc quyền của một số ít doanh nghiệp nhà nước và bảo vệ các cổ đông thiểu số và nâng cao vị thế của các nhà đầu tư tư nhân. Cần xây dựng một số chế tài để hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết những vấn đề thuộc về quản trị doanh nghiệp sau cổ phần hoá, gắn quá trình cổ phần hoá với phát triển thị trường chứng khoán, hướng các doanh nghiệp vào việc xây dựng chiến lược phát triển công ty sau cổ phần hoá một cách rõ ràng, minh bạch.

5. Cùng với quá trình hội nhập cần tích cực xây dựng văn hoá kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Đó là xây dựng một truyền thống kinh doanh mang tính cộng đồng dân tộc cao, tạo cơ chế và sức mạnh tập thể để các doanh nghiệp Việt Nam có thể hỗ trợ lẫn nhau trong cạnh tranh quốc tế. Để làm được việc này, cần đặc biệt nhấn mạnh vai trò của các Hiệp hội doanh nghiệp. Chúng ta đã có những bài học đắt giá để thấy rõ tầm quan trọng của các Hiệp hội khi các doanh nghiệp phải đối mặt với những vụ tranh chấp thương mại và rào cản khi thâm nhập các thị trường quốc tế. Khi Việt Nam gia nhập WTO, thì Hiệp hội doanh nghiệp phải đảm nhận nhiệm vụ phối hợp hành động để bảo vệ thị trường nội địa khi các biện pháp hành chính của Chính phủ phải rỡ bỏ theo quy định của WTO.

Với những nỗ lực của Chính phủ, bộ ngành, địa phương, với đà và thế tạo được trong thời gian qua, nhất định kinh tế - xã hội nước ta sẽ tiếp tục phát triển nhanh, mạnh và bền vững.

Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam - (03/03/2006)


More


Trang chủ  |   Giới thiệu  |   Định vị  |   Phản hồi  |   Giúp đỡ

Số lượt truy cập: 3201573 © Copyright 2003 Vietnam Development Gateway, All right Reserved, Legal & Privacy Notices.
E-mail: vncgteam@vnn.vn  —   Tel: 84-4-2129161