Today: 29 Mar 2004
  Trang chủ | Giới thiệu | Định vị | Góp ý | Giúp đỡ | English

Kinh tế
Tin tức
Chiến lược và kế hoạch phát triển
Đầu tư nước ngoài
Thương mại
Hội nhập kinh tế quốc tế
Doanh nghiệp
Tài chính ngân hàng
Chào mừng đến Việt Nam
Giáo dục - Đào tạo
Chính phủ quản lý
Hợp tác Quốc tế
Khoa học - Công nghệ - Môi trường
Phát triển xã hội
Tin tức
TỶ GIÁ GIAO DỊCH
DIỄN ĐÀN
HỎI/ĐÁP
Hà Nội 18 - 24 oC
Huế 20 - 23 oC
Đà Nẵng 21 - 32 oC
Hồ Chí Minh 22 - 35 oC
  Thương mại

Thương mại Việt Nam với ASEAN


Sau hơn 8 năm gia nhập ASEAN, Việt Nam đã nhanh chóng tham gia các hoạt động của ASEAN. Việt Nam được đánh giá là một thành viên quan trọng, tích cực, một đối tác có trách nhiệm và năng động trong ASEAN; có nhiều đóng góp vào việc tăng cường đoàn kết, thống nhất, giữ vững phương hướng cũng như các nguyên tắc và các giá trị của ASEAN.

Đỉnh cao của sự hợp tác là việc Việt Nam chủ trì và tổ chúc thành công hội nghị cấp cao ASEAN 6 với việc thông qua Chương trình hành động Hà Nội (HPA) được coi là nền tảng của các hoạt động trong và ngoài ASEAN, hoàn thành tốt nhiệm kỳ Chủ tịch ủy ban thưởng trực ASEAN (ASC) và Diễn đàn an ninh khu vực (ARF). Việt Nam đã chủ động đưa ra các sáng kiến như Hợp tác phát triển các vùng nghèo liên quốc gia dọc hành lang Đông - Tây thuộc khu vực Mê Kông (WEC), Tuyên bố Hà Nội về thu hẹp khoảng cách phát triển nhằm tăng cường liên kết ASEAN, hỗ trợ các thành viên mới của hiệp hội, giải quyết các vấn đề cấp bách của ASEAN.

Việt Nam đã và đang phát huy tốt những lợi thế của sự hợp tác trong khu vực. Trước hết phải khẳng định cùng với các nước thành viên khác, Việt Nam đã góp phần quan trọng vào việc củng cố môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác trong ASEAN. Thông qua các mối quan hệ đa phương thân hữu, Việt Nam đang củng cố các mối quan hệ song phương láng giềng trên tinh thần hợp tác giúp đỡ, bình đẳng; cùng có lợi, tôn trọng lẫn nhau. Trên nền tảng của mối quan hệ hợp tác nội khối, Việt Nam có điều kiện để nâng cao vị trí quốc tế của mình, thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ với các nước ngoài khối (nhất là với các bên đối thoại) trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế xã hội...

Trao đổi thương mại giữa Việt Nam với các nước ASEAN tăng trung bình 26,8% mỗi năm, chiếm tới 1/3 tổng kim ngạch buôn bán của Việt Nam. Đến nay, tổng vốn đầu tư của ASEAN vào Việt Nam đạt 9,5 tỷ USD, chiếm 20% toàn bộ ĐTNN tại Việt Nam. Thông qua hợp tác trong ASEAN, Việt Nam có cơ hội để học hỏi kinh nghiệm trong phát triển. Đây là bước chuẩn bị để nước ta tham gia có hiệu quả vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế mà mục tiêu quan trọng nhất là gia nhập WTO.

Bên cạnh những thuận lợi cần được phát huy, các DN của ta cũng phải chấp nhận không ít thách thức. Đó là sự cạnh tranh của hàng hoá các nước ASEAN sẽ ngày càng gay gắt hơn, nhất là các ngành hàng giấy, xi măng, điện tử, đồ điện gia dụng, vật liệu xây dựng, cơ khí ... Để đứng vững trong cuộc cạnh tranh, các DN của ta cần chủ động điều chỉnh chiến lược sản xuất, kinh doanh, phát huy nội lực để nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam. Sức ép cạnh tranh ngày càng tăng bởi vì cùng với việc cắt giảm thuế suất thuế NK, các DN NK trong nước sẽ chuyển sang NK nhiều hơn từ các thị trường thành viên ASEAN.

Giờ đây, do ảnh hưởng của sự phát triển khoa học và công nghệ, do yêu cầu tái cơ cấu sản xuất ở từng nước, nền kinh tế các nước ASEAN liên tục tăng trường cao, cũng là lúc các nước ASEAN đang đồng thời thực hiện 2 quá trình: một mặt nhanh chóng ứng dụng những thành tựu mới của khoa học, công nghệ vào sản xuất và kinh doanh. Mặt khác từng bước di chuyển những dây chuyền công nghệ đã lạc hậu tương đối so với trong nước ra ngoài biên giới nhằm tiếp tục khai thác chúng và chuyển dịch những ngành có hàm lượng thô sơ cao do năng suất lao động trong nước không ngừng tăng lên.

Chính trong thời điểm đó, các nước thành viên mới (CLMV) thực hiện quá trình cải cách nền kinh tế nên đã trở thành địa chỉ quan trọng đón nhận luồng chuyển dịch đó. Chính trên cơ sở sự khác nhau về trình độ phát triển đã tạo nên khả năng hợp tác và bổ sung cho nhau về cơ cấu kinh tế giữa ASEAN - Việt Nam.

Trong quá trình này, thông qua FDL là sự di chuyển công nghệ nên Việt Nam có thể tranh thủ được nguồn công nghệ tương đối phù hợp với khả năng và trình độ của mình. Chỉ trong hơn 2 năm kể từ khi ra đời AFTA, đầu tư trong nội bộ ASEAN đã lên tới 3,3 tỷ USD

Theo đánh giá chung của các chuyên gia kinh tế, FDI từ ASEAN vào Việt Nam đang là một xu thế mới cho đầu tư trong khu vực. Đây là đặc điểm phát triển của ASEAN hiện nay, trong đó sự hội nhập của Việt Nam đóng vai trò tích cực. Dự báo, FDL của ASEAN vào Việt Nam sẽ tiếp tục gia tăng trong khi nền kinh tế các nước ASEAN 6 đang trên đà phục hồi và môi trường kinh tế, chính trị, xã hội ở Việt Nam tiếp tục ổn định.

Năm 2003 các nước ASEAN 6 hoàn thành nghĩa vụ cắt giảm thuế xuống 0 - 5%. Đó là cơ hội tốt để các DN Việt Nam mở rộng XK sang các nước này. Đối với các nước CLMV còn có khó khăn khi tham gia A FTA, một số nước ASEAN tiếp tục dành ưu đãi thuế quan (trong đó cho phép Việt Nam được hưởng thuế suất CEPT khi mà các mặt hàng tương ứng của ta chưa cắt giảm tới mức ngang bằng họ) trong khuôn khổ cơ chế ưu đãi hội nhập (AISP).

Cụ thể, Brunây dành ưu đãi thuế quan cho Việt Nam 1 mặt hàng, Tháilan 17 mặt hàng, In-đô-nê-xia 50 mặt hàng và Malaixia 173 mặt hàng theo AISP. Những mặt hàng này sẽ được hưởng ngang mức thuế ưu đãi chứ không phải chờ tới khi chuyển vào danh mục cắt giảm ngay. Về phần mình, Việt Nam cam kết cắt giảm thuế từ 1/1/2001 đối với những mặt hàng có mức thuế cao xuống còn 20%, sau đó mỗi năm lại giảm tiếp đến 2006 mức thuế của phần lớn các mặt hàng NK từ ASEAN chỉ còn 0-5% và thời gian loại bỏ hoàn toàn là vào năm 2015. Việc cắt giảm thuế được thực hiện đối với từng nhóm: Nhóm cắt giảm thuế ngay, Nhóm loại trừ tạm thời, Nhóm danh mục nhạy cảm và Nhóm loại trừ hoàn toàn.

Một chương trình đặc biệt dành ưu đãi lẫn nhau giữa các nước ASEAN và Trung Quốc trong khuôn khổ Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc gọi tắt là Chương trình thu hoạch sớm (EHP) bắt đầu được triển khai từ 1/1/2004 và kéo dài trong 3 năm. Đối với Việt Nam, EHP cũng được thực hiện từ 1/1/2004 và kết thúc vào 1/1/2008. Đối với ASEAN 6 và Trung Quốc, Việt Nam có thể duy trì các dòng thuế suất cao hơn trong một lộ trình cắt giảm kéo dài hơn. Điều này cho phép các DN của ta thích nghi dần với môi trường cạnh tranh mới. Đây sẽ là một chương trình với nhiều nội dung cụ thể rất có lợi cho hàng hoá của ta thâm nhập thị trường các nước ASEAN và Trung Quốc.

Với Việt Nam, hiện có 15 mặt hàng không tham gia EHP, trong đó có các sản phẩm thịt gia cầm, trứng gia cầm và một số loại quả có múi. Nhìn chung, EHP ít có ảnh hưởng tới quan hệ thương mại Việt Nam - ASEAN vì giữa các nước ASEAN hiện đang thực hiện chương trình CEPT/AFTA với lộ trình cắt giảm thuế nhanh hơn. Tuy nhiên, lợi ích của EHP chính là khả năng phát triển XK sang Trung Quốc. Theo EHP, trong số các mặt hàng XK sang Trung Quốc của nước ta hiện nay, thuỷ sản được hưởng lợi thế nhiều nhất, tiếp đến là rau quả các loại; động vật...

Ngay từ khi Hiệp định khung ASEAN - Trung Quốc được ký kết, các DN Việt Nam đã được hưởng ngay và đầy đủ sự đãi ngộ MFN theo các chuẩn mực của WTO. Điều đó có nghĩa là mọi nghĩa vụ của Trung Quốc tại WTO liên quan đến cắt giảm thuế quan và các biện pháp phi thuế quan, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ sẽ được dành cho các DN Việt Nam. Đây là một bảo đảm quan trọng tạo điều kiện cho các DN Việt Nam tiếp cận bình đẳng với các DN khác trên thị trường Trung Quốc.

Việt Nam tham gia AFTA nhưng tỷ trọng hàng XK của ta vào ASEAN đang có xu hướng giảm. Lý do là vì các DN của ta chậm chuyển dịch cơ cấu hàng XK, mặt khác khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam lại hạn chế khi giảm thuế. Vì thế, vấn đề mấu chốt trong thời gian tới là các DN Việt Nam phải chú trọng hơn nữa đến việc đưa hàng hoá của mình vào thị trường ASEAN.

Tại thị trường Inđônêxia, Việt Nam đang XK nhiều gạo (chiếm từ 25 - 60% tổng lượng gạo NK của nước này), ngoài ra còn có lạc nhân, cao su, dầu thô, hạt tiêu. Theo chương trình AFTA, Chính phủ Inđônêxia đã đưa mặt hàng gạo và đường vào danh sách hàng nhạy cảm nên họ vẫn duy trì thuế NK đánh vào 2 mặt hàng chiến lược này. Tuy nhiên, các DN của ta vẫn có cơ hội XK những mặt hàng khác vào thị trường Inđônêxia, nhất là những sản phẩm công nghiệp, ngũ cốc, thực phẩm… đang có nhu cầu NK lớn vào thị trường hơn 200 triệu dân này.

Thái Lan là thị trường gần gũi trong ASEAN. Việt Nam đang XK sang Thái Lan chủ yếu là máy móc, thiết bị, nhiên liệu, than đá, hải sản, lạc nhân, bông sợi nguyên liệu, sắt thép linh kiện điện tử, dệt may... Gần đây, kim ngạch XK của ta sang Thái Lan có xu hướng giảm nhất là linh kiện điện tử, do các biện pháp quản lý chặt chẽ của Chính phủ Thái Lan và do DN của ta chưa thực sự chủ động thâm nhập thị trường. Thời gian tới các DN của ta cần đẩy mạnh XK sang Thái Lan nhóm hàng nông lâm - hải sản chế biến, đậu đỗ các loại hoa hồi, quế, than đá, thủ công mỹ nghệ...

Thị trường Xingapo có nhiều kênh tiêu thụ quan trọng, đó là kênh tiêu thụ nội địa, kênh trung chuyển và kênh tái xuất. Xingapo là thị trường XNK có tới 96% hàng XNK không có thuế, không có các biện pháp hạn chế thương mại, hạ tầng cơ sở phục vụ cho XNK như thanh toán, trọng tài, cảng khẩu đều rất thuận tiện cho các hoạt động thương mại. Tại đây, các đối tượng bạn hàng rất đa dạng, trong đó có một lực lượng bạn hàng rất quan trọng là các Cty, các tập đoàn đa quốc gia làm ăn tại đây luôn là những bạn hàng XNK và trung chuyển khối lượng lớn hàng Việt Nam đi các nước trong khu vực đồng thời đáp ứ ng hầu hết các nhu cầu NK của ta.

Tuy nhiên, các DN cần nắm chắc và khai thác triệt để lợi thế của thị trường đầu mối này, thâm nhập sâu vào các kênh tiêu thụ, tận dụng mọi tiềm năng của các đối tượng bạn hàng.

Với thị trường Myanma, hiện Việt Nam đang ở thế xuất siêu. Mấy năm gần đây kim ngạch XK của ta sang Myanma tăng trưởng trung bình 30%/năm. Hàng Việt Nam XK sang Myanma gồm: vải và phụ liệu may mặc, dược phẩm, thiết bị y tế, máy và phụ tùng máy xát gạo, thiết bị đường dây và trạm điện, thiết bị đo điện, thép ống...

Đến nay chính phủ Myanma đã có những thay đổi về chính sách thương mại với các nước, trong đó cho phép các DN trong nước được XK gạo theo cơ chế mở. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế NK, trong đó có qui định các đơn hàng NK trước khi được Bộ Thương mại cấp giấy phép phải được Uỷ ban kiểm soát cấp giấy phép của chính phủ nước này phê duyệt về số lượng và trị giá.

Tạp chí Thương mại - (28/01/2004)


More

Trang chủ  |   Giới thiệu  |   Định vị  |   Phản hồi  |   Giúp đỡ

Số lượt truy cập: 71763 © Copyright 2003 Vietnam Country Gateway, All right Reserved, Legal & Privacy Noitices.
E-mail: vncgteam@vnn.vn  —   Tel: 84-04-5372770