Today: 13 Jan 2006
  Trang chủ | Giới thiệu | Định vị | Góp ý | Giúp đỡ | English

Kinh tế
Tin tức
Chiến lược và kế hoạch phát triển
Đầu tư nước ngoài
Thương mại
Hội nhập kinh tế quốc tế
Doanh nghiệp
Tài chính ngân hàng
Nông nghiệp - Công nghiệp
Tin tức
Chào mừng đến Việt Nam
Giáo dục - Đào tạo
Chính phủ quản lý
Hợp tác Quốc tế
Khoa học - Công nghệ - Môi trường
Phát triển xã hội
Website phục vụ phát triển
TỶ GIÁ GIAO DỊCH
DIỄN ĐÀN
HỎI/ĐÁP
Hà Nội 11 - 16 oC
Huế 15 - 21 oC
Đà Nẵng 17 - 23 oC
Hồ Chí Minh 21 - 29 oC
  Đầu tư nước ngoài

Nhìn lại quá khứ để đón làn sóng mới về FDI

Năm 2005, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục đà tăng trưởng của năm 2004; vốn đăng ký mới và tăng vốn đạt 5,5 tỷ USD, cao nhất trong các năm từ 1998 đến nay. Tính đến năm 2005, nước ta đã có hơn 5.800 dự án FDI, với tổng vốn đăng ký trên 50 tỷ USD và vốn thực hiện đạt gần 28 tỷ USD.

Các doanh nghiệp FDI đã chiếm khoảng 40% sản lượng công nghiệp; chiếm 80% ô tô, máy giặt, tủ lạnh, điều hoà nhiệt độ, máy tính, chiếm 60% sản lượng thép cán, chiếm 76% dụng cụ y tế chính xác, chiếm 49% da giày, chiếm 30% xi măng... Tốc độ tăng trưởng sản lượng công nghiệp FDI hàng năm khoảng 20%, bằng 1,3 lần tốc độ tăng trưởng của công nghiệp nói chung. Năm nay, các doanh nghiệp FDI chiếm khoảng 55% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (kể cả dầu thô). Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra hàng triệu việc làm, đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách nhà nước và cho tăng trưởng kinh tế.



Nhìn lại gần 20 năm thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam, từ 1988 đến nay, có thể khẳng định rằng, chủ trương của Đảng và Nhà nước hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có thu hút FDI là một chủ trương đúng đắn và phù hợp với xu thế của thời đại. Luật Đầu tư nước ngoài được Quốc hội Việt Nam thông qua vào tháng 12/1987 được dư luận thế giới đánh giá là một trong những luật đầu tư thông thoáng và hấp dẫn nhất của khu vực vào lúc đó.



Ngay từ đầu, Nhà nước Việt Nam đã khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện cả 3 hình thức đầu tư: hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh và 100% vốn nước ngoài, khi mà cả Indonesia và Trung Quốc đều chưa áp dụng hình thức 100% vốn nước ngoài. Nước ta đã mở rộng cửa đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong hầu hết các lĩnh vực, các ngành kinh tế; phạm vi cấm và hạn chế đầu tư đối với nước ngoài không nhiều. Nước ta khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án của mình trên toàn lãnh thổ, kể cả ở thành thị, ở nông thôn và miền núi với những ưu đãi đặc biệt cho các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội không thuận lợi. Việt Nam thuộc vào một số ít nước áp dụng phương thức xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), một phương thức đặc biệt do Chính phủ hoặc các cơ quan được Chính phủ ủy quyền trực tiếp ký hợp đồng với nhà đầu tư nước ngoài, để thực hiện các dự án xây dựng hạ tầng kinh tế kỹ thuật - sân bay, bến cảng, đường giao thông, nhà máy điện, nhà máy nước... với những ưu đãi đặc biệt về thuế, về việc không thu tiền thuê đất và với thời hạn từ 50 năm trở lên.



Để quản lý nhà nước đối với đầu tư nước ngoài - một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ mà chúng ta chưa có kinh nghiệm, một cơ quan chuyên trách đã được thành lập - đó là Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư (SCCI). Cơ quan này là đầu mối duy nhất tiếp cận với nhà đầu tư nước ngoài, thẩm định và cấp giấy phép cho các dự án đầu tư, theo dõi, hướng dẫn, hỗ trợ các nhà đầu tư trong khi triển khai dự án, giải quyết các tranh chấp trong đầu tư và xử lý theo pháp luật những vi phạm.



Với Luật Đầu tư nước ngoài thông thoáng, với một cơ quan duy nhất quản lý trực tiếp hoạt động đầu tư nước ngoài, với tinh thần “trải chiếu hoa mời các nhà đầu tư” của nhiều ngành, nhiều địa phương, hoạt động thu hút FDI đã có những bước phát triển ngoạn mục. Sau thời kỳ thăm dò và học hỏi 1988-1990 là thời kỳ tăng trưởng với tốc độ cao trên một diện rộng từ 1991 - 1997. Đó là 7 năm có thể được gọi là “thời kỳ hoàng kim” của FDI. Trong 3 năm 1988-1990, vốn đăng ký mới và tăng vốn chỉ có 1,582 tỷ USD, thì 5 năm 1991 - 1995 là 18,377 tỷ USD và 2 năm 1996 -1997 là 15,246 tỷ USD. Các con số đó đã nói lên sự phát triển vượt bậc của FDI. Từ 1998 - 2003 là thời kỳ suy giảm mạnh mẽ FDI. Có nguyên nhân khách quan gắn với tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực bắt đầu từ tháng 7/1997. Tuy vậy, nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu. Chúng ta đã không biến thách thức do cuộc khủng hoảng đó gây ra thành cơ hội để thu hút mạnh mẽ FDI vào nước ta. Khi mà các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Philippines và Malaysia đang phải đối phó với bão táp kinh tế, thì Việt Nam nằm ở ngoại vi của vòng xoáy khủng hoảng, có thể trở thành “miền đất hứa” đối với các nhà đầu tư, nếu chúng ta tạo ra được môi trường đầu tư hấp dẫn. Đáng tiếc là cơ hội đó đã bị bỏ lỡ. Tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng như một số người đã mô tả là có “độ trễ”, nên hiệu ứng cuộc khủng hoảng đã lan sang nước ta chậm hơn, nhưng tác động lại dài hơn. Đó là một bài học đắt giá có liên quan đến “thách thức và cơ hội” trong hội nhập kinh tế quốc tế.



Các tín hiệu tích cực đã bắt đầu từ cuối năm 2003 và càng rõ hơn trong năm 2004; nhiều nhà đầu tư cũ đã trở lại Việt Nam; nhà đầu tư mới đã tìm thấy một số thị trường đầy tiềm năng của Việt Nam. Năm 2005 thật sự là năm khởi sắc của FDI kể từ năm 1998. Cuộc Triển lãm về đầu tư nước ngoài được tổ chức vào tháng 11 vừa qua tại Hà Nội gắn với Hội thảo quốc tế đã thu hút được sự quan tâm của hàng trăm nhà đầu tư nước ngoài, ghi dấu ấn trong hoạt động của lĩnh vực này, sau Forum đầu tiên về FDI được tổ chức vào năm 1991 tại TP.HCM. Đó là dấu ấn báo hiệu một làn sóng mới của FDI tại Việt Nam, sau làn sóng thứ nhất trong giai đoạn 1991 -1997.

Chúng tôi cho rằng, làn sóng đầu tư mới này có hai đặc điểm. Một là, làn sóng đầu tư trong thời kỳ 1991 - 1997 diễn ra khi các nhà đầu tư nước ngoài mới cảm nhận được môi trường thuận lợi về pháp lý và về việc có một cơ quan Nhà nước thống nhất quản lý về đầu tư, chưa có cơ sở vững chắc như làn sóng mới hiện nay, khi vị thế Việt Nam trong ASEAN, trong khu vực và trên thế giới được nâng lên rõ rệt, Việt Nam được coi là một nơi đầu tư an toàn nhất.



Tuy còn khá nhiều vấn đề, đặc biệt là tình trạng nhũng nhiễu và quan liêu của bộ máy Nhà nước, nhưng đánh giá chung của các nhà đầu tư nước ngoài là, Chính phủ Việt Nam đang hướng mọi cố gắng và tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư và kinh doanh. Hai là, khi trong khu vực đang có những biến động, tranh chấp, dẫn đến sự điều chỉnh về chiến lược của nhiều nước, bao gồm của các cường quốc như Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) và Nhật Bản. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đang được nhiều tập đoàn lớn của các nước chú ý. Không phải ngẫu nhiên mà tại cuộc Hội thảo tại New York (Mỹ), ông Tomohio Tanikuchi, giáo sư Nhật Bản, thuộc Trung tâm Nghiên cứu chính sách Đông Bắc Á đã phát biểu: “Điều thứ nhất tôi muốn nói là đối với Nhật Bản, Việt Nam quan trọng hơn quý vị tưởng rất nhiều. Thứ hai, Nhật Bản cần Việt Nam không thua gì Việt Nam cần Nhật Bản”. Hai đặc điểm đó tạo nên cơ hội mới để nước ta có thể thu hút được nhiều hơn vốn FDI của thế giới.

Vậy bao nhiêu là vừa và làm gì để đón nhận làn sóng đầu tư mới?
Mục tiêu quan trọng nhất trong 5 năm sắp tới (2006-2010) sẽ được Đại hội Đảng lần thứ X quyết định là đưa nước ta vượt qua ngưỡng của một nước thu nhập thấp, trở thành nước thu nhập trung bình thấp, khoảng 1.000 USD/người vào năm 2010; tạo tiền đề để hướng tới các mục tiêu cao hơn trong thập kỷ thứ hai của thế kỷ này.



Mục tiêu đó đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó bài toán về vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư rất quan trọng. Cùng với việc khai thác tối đa tiềm năng về vốn trong nước thông qua các kênh như huy động vào ngân sách Nhà nước, tín dụng đầu tư, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, hộ gia đình, trang trại... thì việc huy động vốn từ nước ngoài bao gồm FDI, ODA, đầu tư gián tiếp, tín dụng thương mại là một kênh quan trọng để bảo đảm đủ vốn đầu tư cho tăng trưởng.

Năm 2005, vốn FDI thực hiện khoảng 3,2 tỷ USD. Trong thời kỳ 2006 - 2010, dự kiến số vốn cần huy động từ nước ngoài chiếm khoảng 30-35% tổng vốn đầu tư xã hội; trong đó vốn FDI chiếm 60-70%. Mỗi năm trung bình cần có vốn FDI thực hiện là 4,5 - 5 tỷ USD, cả 5 năm là 22 - 25 tỷ USD. Theo kinh nghiệm đã tổng kết thì hàng năm phải có vốn đăng ký mới và tăng vốn ít nhất là 6,5 - 7 tỷ USD.

(1) Tiếp cận tư duy mới về FDI
Để tận dụng làn sóng đầu tư mới vào Việt Nam, quan trọng nhất là phải làm cho tư duy về FDI, cũng như về quản lý nhà nước đối với FDI phù hợp với xu thế toàn cầu hoá vào đầu thế kỷ thứ XXI. Sự chuyển dịch vốn FDI của thế giới trong thời đại ngày nay không giới hạn ở các khu vực địa lý, mà còn phụ thuộc vào nước nào tạo ra được lợi thế nhất, an toàn và an ninh cho các nhà đầu tư, thủ tục hành chính đơn giản nhất, lĩnh vực đầu tư mở rộng nhất với những sự hạn chế hết sức tối thiểu, để các ý tưởng mới của nhà đầu tư nhanh chóng biến thành cơ hội kinh doanh và được thực hiện trong một môi trường thuận lợi nhất.

(2) Đổi mới vận động đầu tư
Tận dụng hệ thống thông tin toàn cầu để quảng bá hình ảnh của đất nước và các dự án mà mỗi ngành, mỗi địa phương khuyến khích đầu tư. Đã qua rồi thời kỳ giảng giải về Luật Đầu tư và chính sách khuyến khích của Việt Nam; cũng không nên gửi các đoàn ra nước ngoài mà không có những địa chỉ cụ thể để vận động đầu tư. Các cơ quan quản lý nhà nước phải coi xúc tiến đầu tư là chức năng đầu tiên của mình. Hiện nay, đã có nhiều website của các bộ, các địa phương liên quan đến FDI; đáng tiếc là chất lượng và sự kết nối của các website đó không được bảo đảm, nên các nhà đầu tư không thu nhận được những thông tin cần thiết để đưa ra quyết định về đầu tư ở Việt Nam. Việc tập trung công sức để nâng cao chất lượng của các website là một vấn đề có tính thời sự trong vận động đầu tư. Đối với các thị trường lớn như Mỹ, EU và Nhật Bản cần có dự án lớn định hướng vào các tập đoàn xuyên quốc gia (TNCs) hàng đầu của từng nước, để tiếp cận thông qua các cuộc trao đổi trên mạng và trao đổi trực tiếp nhằm trong một thời gian ngắn có thể đi đến quyết định đầu tư.

(3) Đổi mới quan niệm về quản lý FDI
Đối với các nhà đầu tư, những ưu đãi về thuế, về tiền thuê đất, về thời hạn của dự án vẫn rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn là hiệu năng của bộ máy Nhà nước, từ khi các công chức Nhà nước tiếp cận ban đầu với nhà đầu tư, đến việc thẩm định dự án đầu tư và quản lý sau khi cấp giấy phép đều cần có nhận thức đúng “nhà đầu tư là chủ thể, là người có quyền nhất và quan tâm nhất đến hiệu quả đầu tư”. Nhà nước hỗ trợ, hướng dẫn và thực hiện các thủ tục hành chính tối thiểu nhất, với thời hạn ngắn nhất để nhà đầu tư có thể triển khai được dự án sớm nhất. Quản lý Nhà nước bao gồm cả việc xử lý vi phạm pháp luật, nhưng cần coi đó là việc làm bắt buộc, chứ không phải là để đối phó với các nhà đầu tư, cản trở các hoạt động đầu tư và kinh doanh của các doanh nghiệp.
Chừng nào chưa có được nhận thức đúng về quản lý Nhà nước trong xu thế toàn cầu hoá, đang đặt ra cho mỗi quốc gia thách thức lớn về năng lực cạnh tranh và cơ hội lớn về tìm kiếm nguồn lực bên ngoài, thì chừng đó cuộc cải cách nền hành chính quốc gia, mặc dù đã có chương trình dài hạn đến năm 2010 vẫn không thu được kết quả đáng có.

(4) Có quan điểm đúng về phân cấp
Việc phân cấp quản lý Nhà nước trở thành tính quy luật, nhưng không nên lạm dụng sự phân cấp mà hiện đang dẫn đến cả hai tình trạng. Một là, phân cấp khi chưa tạo lập được các điều kiện cần và đủ ở địa phương và cơ quan được phân cấp các chức năng vốn là của các bộ, nên sinh ra bất cập, giảm thiểu chất lượng và hiệu năng của quản lý Nhà nước. Hai là, phân cấp dẫn đến tính trạng “phép vua thua lệ làng”, vi phạm tính thống nhất của luật pháp Nhà nước, tạo nên sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương, giảm, miễn thuế, tiền thuê đất vượt quá khuôn khổ luật pháp, phương hại đến lợi ích quốc gia. Đáng tiếc cả hai tình trạng đó đang diễn ra khá phổ biến, đòi hỏi Chính phủ cũng như lãnh đạo chính quyền các địa phương phải hết sức nghiêm túc trong việc thực thi pháp luật.
Làn sóng đầu tư mới nếu được đón nhận bằng môi trường thuận lợi về pháp lý và về quản lý Nhà nước thì sẽ góp phần vào việc bảo đảm vốn đầu tư cho tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm 8-8,5% của thời kỳ 2006 - 2010.



Báo Đầu tư - (13/12/2005)


More

Trang chủ  |   Giới thiệu  |   Định vị  |   Phản hồi  |   Giúp đỡ

Số lượt truy cập: 1665517 © Copyright 2003 Vietnam Development Gateway, All right Reserved, Legal & Privacy Notices.
E-mail: vncgteam@vnn.vn  —   Tel: 84-4-8532313