Today: 19 Dec 2005
  Trang chủ | Giới thiệu | Định vị | Góp ý | Giúp đỡ | English

Kinh tế
Tin tức
Chiến lược và kế hoạch phát triển
Đầu tư nước ngoài
Thương mại
Hội nhập kinh tế quốc tế
Doanh nghiệp
Tài chính ngân hàng
Nông nghiệp - Công nghiệp
Tin tức
Chào mừng đến Việt Nam
Giáo dục - Đào tạo
Chính phủ quản lý
Hợp tác Quốc tế
Khoa học - Công nghệ - Môi trường
Phát triển xã hội
Website phục vụ phát triển
TỶ GIÁ GIAO DỊCH
DIỄN ĐÀN
HỎI/ĐÁP
Hà Nội 14 - 24 oC
Huế 18 - 23 oC
Đà Nẵng 19 - 27 oC
Hồ Chí Minh 22 - 32 oC
  Chiến lược và kế hoạch phát triển

Chiến lược phát triển công nghiệp đến 2010

Đến hết quý I/2005, giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp (công nghiệp) chỉ tăng 14,4%, thấp hơn so với cùng kỳ 2004 (15,6%), trong khi mục tiêu cả năm là 16%.

Điều đáng lưu ý, khu vực Nhà nước chỉ tăng 8,8% trong khi khu vực ngoài quốc doanh tăng 25,5% và khu vực FDI tăng 12,5%. Sức ép hoàn thành sứ mệnh đóng góp 40% cho tăng trưởng GDP và vấn đề quy hoạch ngành đang đòi hỏi cơ quan chủ quản sớm ban hành chiến lược phát triển công nghiệp đến 2010 và tầm nhìn đến 2020.

Diễn đàn kỳ này xin giới thiệu một số ý kiến của các nhà quản lý, giới nghiên cứu và doanh nghiệp xung quanh vấn đề trên.

Lựa chọn mô hình và bước đi thích hợp

Ông Hoàng Trung Hải, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp

"Qua 4 năm thực hiện kế hoạch kinh tế-xã hội (2001- 2005), công nghiệp Việt Nam (công nghiệpViệt Nam) đã đạt được những kết quả khích lệ.

Tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng trong GDP tăng từ 36,7% năm 2000 lên ước 42% trong 2005. Cơ cấu SP và cơ cấu công nghệ theo hướng tiến bộ, gắn sản xuất với thị trường. Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp tăng trưởng nhanh (17,8%), cao hơn tốc độ tăng trưởng chung cả nước (16,1%) và chiếm tỷ trọng ngày càng cao (từ 69,9% năm 2000 lên ước 75% trong 2005).

Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập, công nghiệp Việt Nam phải hoàn thiện Chiến lược phát triển ngành đến 2010, có xét đến 2020 nhằm phát huy cao độ mọi nguồn lực trong nước, thu hút tối đa và khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực bên ngoài. Thời gian đến 2020 không còn nhiều. Những đất nước được gọi là "con hổ", "con rồng" trong vùng đã tìm được cho mình một mô hình phát triển, khai thác triệt để bối cảnh quốc tế và thế mạnh riêng của họ. Đó là Nhật Bản trong thời kỳ bảo hộ; Singapore, Malaysia, Thái Lan trong thời kỳ đầu của quá trình toàn cầu hóa; Trung Quốc và Ấn Độ trong thời gian gần đây.

Chúng ta cần học hỏi kinh nghiệm những nước đi trước, đồng thời phải có những sáng tạo để xây dựng một mô hình thích hợp, nhằm rút ngắn nhanh khoảng cách với các nước. Vì vậy, theo tôi, Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến 2020 phải giải quyết nhiều vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn.

Bên cạnh đó, chúng ta nên lựa chọn các ngành công nghiệp mũi nhọn trên cơ sở lợi thế cạnh tranh, đặc biệt là lợi thế cạnh tranh động để ưu tiên phát triển. Bởi ngoài việc chiếm tỷ trọng đáng kể trên thị trường (trong và ngoài nước) và khả năng cạnh tranh cao, các ngành công nghiệp mũi nhọn có tạo ra hiệu ứng lan tỏa, dẫn dắt và kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp khác.

Chiến lược cần tính toán lộ trình xây dựng, nuôi dưỡng và phát triển ngành công nghiệp mũi nhọn một cách tối ưu trên cơ sở nền kinh tế hội nhập và khả năng huy động các nguồn lực cho phát triển, vai trò và vị trí của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cần gắn sản xuất và xuất khẩu công nghiệp vào chuỗi sản xuất và lưu thông quốc tế, đặc biệt là mạng lưới của các công ty đa quốc gia thông qua việc gia nhập vào các chuỗi giá trị toàn cầu để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp và xuất khẩu trong quá trình công nghiệp hóa. Sự chuyển dịch và gia nhập có thể từ chỗ ở bên ngoài mạng trở thành mắt khâu của mạng, có thể từ mắt khâu có giá trị gia tăng thấp chuyển lên vị trí có giá trị gia tăng cao hoặc tự nâng cấp để có giá trị gia tăng ngay ở vị trí hiện tại".

Thuế nhập khẩu chưa thu hút đầu tư

Ông Mitsuru Okada, Tổng giám đốc Panasonic Việt Nam

"Panasonic Việt Nam hiện đang gặp phải 3 vấn đề chủ yếu. Thứ nhất, lộ trình thuế nhập khẩu các mặt hàng linh, phụ kiện điện tử thuộc khối CEPT trong 2005 là 20%, đến 2006 sẽ giảm còn 5%. Tuy nhiên, Chính phủ Việt Nam đã ký kết một thỏa thuận với Thái Lan, theo đó trong 2005, mức thuế đối với tivi, máy giặt, tủ lạnh... được nhập khẩu từ Thái Lan sẽ giảm xuống còn 10% chứ không phải 20% như trước. Như vậy, con số 10% được giảm kia không phải là nhỏ và điều này ảnh hưởng tới giá bán của chúng tôi. Mặc dù người tiêu dùng được lợi. Tôi muốn các nhà hoạch định chính sách phải tính tới yếu tố này để không ảnh hưởng tới những nhà lắp ráp như chúng tôi.

Thứ hai, tôi cũng muốn làm rõ hơn vấn đề thuế nhập khẩu linh kiện, phụ kiện đối với các nước được hưởng quy chế tối huệ quốc. Việt Nam là một thành viên của ASEAN, nên khi Việt Nam nhập khẩu những mặt hàng này từ ASEAN, chúng tôi cũng được hưởng lợi. Tuy nhiên, cũng là những linh phụ kiện đó, nếu chúng tôi nhập khẩu từ Hàn Quốc hay Trung Quốc, mức thuế lại bị tăng đến 30%!

Vì yếu tố chất lượng của thành phẩm, chúng tôi đã phải chịu mức thuế cao và giá bán bị nâng lên nên rất khó cạnh tranh với các sản phẩm nguyên chiếc được nhập từ các nước ASEAN. Do mức thuế nhập khẩu linh phụ kiện từ các nước được hưởng quy chế tối huệ quốc vẫn cao hơn thuế nhập khẩu nguyên chiếc từ các nước ASEAN, chúng tôi bị thiệt rất nhiều. Cần có chính sách thuế phù hợp giữa thuế nhập khẩu linh phụ kiện và nhập khẩu nguyên chiếc giữa chính sách thuế nhập khẩu từ khối CEPT và các nước trong quy chế tối huệ quốc.

Thứ ba, ngay tại Thái Lan, từ tháng 5/2004, mức thuế các sản phẩm linh phụ kiện điện tử nhập khẩu từ Trung Quốc đã giảm xuống còn 5%. Các nhà lắp ráp của Thái Lan được hưởng lợi nhiều từ chính sách này và tính cạnh tranh hàng hóa của họ cao hơn. Trong khi mức thuế này ở Việt Nam vẫn ở mức 30% là quá cao và không thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư tìm đến".

Ngành mũi nhọn phải có hiệu ứng lan tỏa

Ông Phạm Quang Ngọc, Đại học Tổng hợp Liên hợp quốc (United Nations University)

"Có lẽ, trước khi bắt tay vào xây dựng thành công bản chiến lược công nghiệp, chúng ta hãy làm rõ một số những khái niệm hãy còn mập mờ.

Thứ nhất, khái niệm ngành công nghiệp có công nghệ cao là thế nào? Nhiều người nói: ngành công nghiệp của ta nên dựa vào một số mũi nhọn, dựa vào công nghệ cao nhưng tôi nghĩ, công nghệ hiện đại ở đây không phải điều chúng ta đang tưởng: có bao nhiêu máy móc và công trình hiện đại. Trên thực tế, nếu chúng ta nhập nhiều nhà máy hiện đại về nhưng tri thức không có thì không khác gì đặt những nhà máy ấy ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Bởi hiệu ứng lan tỏa của nó sẽ không thể thực hiện được.

Thứ hai là vấn đề định hướng ngành. Một vài nghiên cứu gần đây cho rằng, những ngành có lợi thế cạnh tranh của Việt Nam thường thuộc về một số yếu tố nguồn tài nguyên, lao động hoặc tập trung phát triển công nghiệp thép. Nhưng lợi thế cạnh tranh chính là khi sản xuất ra hàng hóa, giá bán rẻ hơn, chất lượng tốt hơn với cùng một chủng loại hàng hóa. Vì vậy, đối với vấn đề công nghiệp mũi nhọn, phải quan tâm đến việc ảnh hưởng tương hỗ đến các ngành chứ không nên quá trông chờ vào một ngành và hô hào phải phát triển ngành này hay ngành kia. Đã là hàng hóa khi cung ứng trên thị trường thì không nên tính vào đó các yếu tố tài nguyên môi trường mà trước hết phải là vốn và lao động hay công nghệ.

Vấn đề tiếp theo là cổ phần hóa. Nhiều ý kiến nêu nên tập trung CPH doanh nghiệp nào đó hoặc một loại hình doanh nghiệp. Nhưng tôi cho rằng, nên để thị trường tự vận động và dòng vốn được dịch chuyển một cách tự do giữa các hình thức sở hữu. Trên thực tế, có nhiều ngành mà doanh nghiệp Nhà nước vẫn còn và có khả năng giữ vai trò tiên phong, trong khi khối tư nhân không đủ năng lực tiếp nhận. Chúng ta không bằng mọi cách để cổ phần hóa tất cả nhưng cũng không nên để các doanh nghiệp Nhà nước giữ mãi một số ngành. Trong quá trình đóng vai trò đầu tàu, các doanh nghiệp Nhà nước nên xây dựng năng lực của các khối khác, để cho họ cùng tham gia. Bởi lẽ, nguồn lực của Nhà nước có hạn, chúng ta nên luôn dịch chuyển nó vào các ngành, mà các khối khác không có khả năng làm mũi nhọn".

Nên tham khảo bài học Thái Lan

GS.TS. Kenichi Ohno, Giám đốc Dự án Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF)

"Tôi cho rằng để xây dựng thành công bản chiến lược, nhất thiết phải tham khảo kinh nghiệm của các nước đi trước, nhằm đạt mục đích nhưng rút ngắn được hành trình. Chúng tôi chọn nghiên cứu Thái Lan bởi giữa họ với Việt Nam có những nét tương đồng: quy mô dân số (61 triệu dân), mức thu nhập (2.291 USD/năm - đây là mục tiêu của Việt Nam đến 2020), tỷ lệ hàng chế tạo xuất khẩu cao (76%) và đặc biệt nổi bật với hai loại sản phẩm công nghiệp hàng điện tử và ô tô - xe máy.

Mặt khác, mục tiêu phát triển công nghiệp của Việt Nam đến 2020 cũng gần gũi với Thái Lan: thu nhập tương đối (gia nhập nhóm các nước có thu nhập trung bình (Trung Quốc - ASEAN).

Chúng tôi đã có những nghiên cứu nhất định về yếu tố Thái Lan ở một số điểm và tôi cho rằng, nó rất hữu ích trong việc xây dựng bản chiến lược tổng thể của Chính phủ Việt Nam.

Thứ nhất, đường lối phát triển kinh tế của Thủ tướng Thaksin thường được quyết định bởi TTg (Top - down Policy). Sau đó ông chỉ đạo các bộ ngành liên quan hoạch định chi tiết và tổ chức hành động. Vai trò của bộ ngành là cụ thể hoá đường lối chính sách TTg đưa ra chứ không đơn thuần là xây dựng chính sách rồi trình lên. Thái Lan cũng có Uỷ ban phát triển xã hội và kinh tế quốc gia (NESDB) phác thảo kế hoạch phát triển dài hạn nhưng nó bị mờ nhạt bởi sự chi phối mạnh mẽ của TTg. Thaksin là người muốn áp đặt phong cách quản lý chặt chẽ và điều hành đất nước giống như một ông chủ của doanh nghiệp.

Thứ hai, tự do hoá và đẩy mạnh năng lực địa phương. Mặc dù chính sách điều hành đất nước của TTg có vẻ tập trung nhưng ông lại rất coi trọng việc hội nhập kinh tế quốc tế, các sáng kiến thương mại quốc tế và thiết lập ưu đãi giống nhau đối với mọi loại hình doanh nghiệp. Mặt khác, Chính phủ Thái Lan cũng rất quan tâm đến phát triển nguồn nhân lực (Human Resource Development - HRD) và phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (của địa phương).

Tôi cho rằng, với chính sách như vậy đã đáp ứng được yêu cầu của toàn cầu hóa và trùng hợp với tư vấn chính sách của các tổ chức quốc tế như WTO, WB và IMF. Rất có thể rằng, quy trình hoạch định chính sách từ trên xuống kết hợp với các biện pháp hỗ trợ cởi mở từ Chính phủ sẽ là chuẩn mực mới cho các nước phát triển chăng?

Thứ ba, các ngành công nghiệp mũi nhọn và việc hoạch định chính sách công nghiệp. Trong bối cảnh gia tăng cạnh tranh quốc tế, Thái Lan đã tìm một lối đi riêng để định vị nền kinh tế cho mình: phát triển ngành công nghiệp có giá trị nội địa gia tăng cao và tìm ra nhiều thị trường ngách (tránh đụng đầu trực tiếp với kinh tế Trung Quốc và các nước phát triển mạnh). Cụ thể, Thái Lan chú trọng vào ngành công nghiệp ô tô và phụ tùng, chế biến nông sản, thời trang, dịch vụ có giá trị gia tăng cao, điện tử và công nghệ thông tin, năng lượng và tái tạo năng lượng.

Thứ tư, quy hoạch tổng thể ngành công nghiệp ô tô - xe máy giai đoạn 2002 - 2006 đề ra các mục tiêu: sản xuất 1 triệu ô tô/năm (tổng giá trị hơn 500 tỷ baht) và xuất khẩu 40%; sản xuất 2 triệu xe máy (tổng giá trị hơn 100 tỷ baht và xuất khẩu 20%; xuất khẩu các linh phụ kiện trị giá 200 tỷ baht và đạt tỷ lệ nội địa hóa 60%.

Sự khác biệt ở đây so với Việt Nam là: một là, Thái Lan chỉ đưa ra mục tiêu tổng giá trị xuất khẩu, không đưa ra các mục tiêu số lượng ô tô theo chủng loại. Nhà nước không có một dự án quốc gia về ô tô và không quan tâm đến thành phần kinh tế, hình thức đầu tư hay sở hữu trong sản xuất, kinh doanh ô tô; hai là, phần tổ chức thực hiện rất chi tiết, trong khi phần này của Việt Nam còn chung chung.

Thứ năm, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài. Về điểm này, có lẽ Việt Nam phải học hỏi Thái Lan. Chính phủ Thái Lan tập trung phê duyệt các dự án đầu tư về một cơ quan (Uỷ ban đầu tư - BOI), chính quyền địa phương không có quyền đưa ra bất kỳ một chính sách ưu tiên trong khi ở Việt Nam, chính quyền địa phương có thể phê duyệt các dự án nhỏ và chính sách ưu tiên thu hút vốn FDI mỗi địa phương mỗi khác. Ngoài ra, sự tiếp thị FDI của BOI và MPI rất khác nhau".

Phân bố hợp lý và phát triển công nghiệp nền tảng

PGS.TS. Phan Đăng Tuất, Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược, Bộ Công nghiệp

"Việt Nam là đất nước có nhiều nét không tương đồng về khí hậu, tiềm năng và lối sống giữa 3 miền. Vì thế, những yếu tố này có tác động không nhỏ đến cách nhìn chiến lược phát triển công nghiệp. Với một đất nước có chiều ngang hẹp và các dòng sông đều chảy cắt ngang, vậy có nên phân bố công nghiệp tại những khu vực thượng nguồn? Có một nghịch lý hiện nay: công nghiệp giấy thường tồn tại nơi có rừng, nhưng rừng lại là nơi đầu nguồn các dòng sông và chính nó đã làm vấy bẩn dòng sông cũng như ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống nơi hạ lưu.

Ở Việt Nam đang diễn ra một thực tế: nhằm hình thành những trung tâm công nghiệp lớn tạo lực đẩy cho nền kinh tế, đã có sự tập trung quá đáng các khu công nghiệp ở Tp.HCM, Bình Dương, Đồng Nai và Vũng Tàu. Vùng này chiếm đến 50% tỷ trọng công nghiệp của cả nước, thu hút hơn 1,5 triệu lao động với những điều kiện ăn ở cần thiết đang phải xem xét lại. Cùng với sự tập trung quá mức ấy thì ở khu vực nông thôn ngày càng trở nên thưa vắng những lao động trong độ tuổi.

Trên những cánh đồng ở Trực Ninh (Nam Định) chỉ còn bà già và em nhỏ như thời kỳ còn chiến tranh. Những người lớn và trai trẻ đã rời làng ra thành phố. Rất nhiều địa phương khác cũng đang gặp tình trạng như vậy. Vậy, phải chăng, chúng ta nên tham khảo bài học của Trung Quốc về phát triển những vùng công nghiệp ở làng quê để giữ chân lao động nông thôn? Do vậy, trong chiến lược phát triển công nghiệp, chúng tôi chia ra 3 nhóm ngành: nhóm ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh (động và tĩnh); nhóm ngành công nghiệp nền tảng và nhóm công nghiệp tiềm năng.

Tôi cho rằng, nên đặc biệt chú ý nhóm ngành có lợi thế cạnh tranh, bởi dù muốn hay không, nhóm này vẫn có cơ hội cạnh tranh trong vòng 10 - 15 năm nữa. Trong bản dự thảo chiến lược, chúng tôi có định hướng cho các ngành nông - lâm- thủy hải sản - đồ gỗ và dệt may. Giống như các nước mới phát triển, dệt may là ngành công nghiệp quan trọng và thường không bị bỏ qua.

Tiếp theo là nhóm công nghiệp nền tảng, mặc dù có nhiều chuyên gia khuyên rằng Việt Nam không nên phát triển công nghiệp nền tảng. công nghiệp phải có tính tự chủ tương đối và điều này chỉ trở thành hiện thực khi thực hiện nền công nghiệp nền tảng. Cho dù hôm nay, rất nhiều chuyên gia cho rằng, Việt Nam không nên theo đuổi công nghiệp thép nhưng cá nhân tôi lại có quan điểm trái ngược.

Nên nhớ, cách đây 40 năm, Tổng thống Pak Chung Hy bị Quốc hội phản đối khi đầu tư vào công nghiệp thép nhưng giờ đây Hàn Quốc là một cường quốc về thép. Việt Nam có một trữ lượng quặng sắt tương đối lớn, ví như ở trữ lượng mỏ Thạch Khê lên tới 450 triệu tấn, trong khi nhu cầu mỗi năm chỉ 7 triệu tấn, vậy hà cớ gì chúng ta không sản xuất thép? Và nếu không có thép, đừng bao giờ nghĩ đến cầu đường, ôtô hay cơ sở hạ tầng!".

Tránh trùng chéo khi phân nhóm ngành

Ông Nguyễn Văn Áng, Viện phó Viện Nghiên cứu Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân

"Để xây dựng thành công chiến lược phát triển công nghiệp, chúng ta nên kế thừa phương pháp luận đã có từ thời kỳ kinh tế hóa tập trung thông qua sử dụng những quan điểm đã có về các vấn đề cơ cấu ngành, vùng và công nghệ để tiếp cận, xây dựng chiến lược.

Về cơ cấu ngành, quan điểm của Bộ Công nghiệp có phân ra 3 nhóm ngành: nhóm có lợi thế cạnh tranh, nhóm nền tảng và nhóm tiềm năng. Tôi nghĩ: có cần thiết phải như vậy không? Bởi trên thực tế, sẽ có sự trùng chéo: có những nhóm ngành vừa có lợi thế cạnh tranh, vừa là khoa học nền tảng, vừa là tiềm năng. Lại có những ngành chỉ có một trong 3 thuộc tính trên. Vì vậy, tôi cho rằng, những ngành nào hội tụ đủ 3 thuộc tính đó, có thể được ưu tiên phát triển hơn những ngành chỉ có 1 hoặc 2 thuộc tính. Nhưng ngay cả khi chúng ta chọn những ngành có lợi thế cạnh tranh để ưu tiên nhằm đạt mục đích xuất khẩu thì cũng không hẳn đã hoàn toàn đúng.

Bởi lẽ, những ngành Việt Nam không có lợi thế lại xuất khẩu được nhiều. Ví dụ: lâu nay, mặt hàng điện tử vẫn thuộc về quyền thống soái của các đại gia Nhật Bản, Malaysia, nhưng hiện nay, mặt hàng này chúng ta vẫn có thể "chiến đấu" được! Vì thế, không nhất thiết phải dựa vào cái quan niệm vốn có "lợi thế cạnh tranh" để xây dựng chiến lược. Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy, khu vực kinh tế tư nhân tại Hà Nội đã không chỉ đầu tư vào những lĩnh vực mới mà còn đầu tư vào cả những thị trường đã có sản phẩm.

Về cơ cấu vùng, tôi đã chứng kiến một số địa phương như Tp.HCM đã bộc lộ quá tải về sự tăng dân số cơ học từ những tỉnh miền Bắc hoặc các địa phương lân cận đổ dồn về do trước đó, những địa phương này xác định cơ cấu ngành bị "chệch". Họ coi dệt may, da giầy là mũi nhọn trong khi những ngành này chỉ thu hút những lao động trình độ thấp. Hơn nữa, các doanh nghiệp cũng không thể nào xoay đủ đất để làm nhà cho công nhân, trong khi chưa nói đến các phức tạp khác về mặt xã hội, dân sinh khi mật độ dân số bị tập trung một cách thái quá. Tôi nghĩ, điều này phải được làm rõ trong nội dung bản dự thảo chiến lược".

Xét ở góc độ vĩ mô, thực trạng công nghiệp đang đứng trước những thách thức to lớn: Sự tập trung quá mức tỷ trọng công nghiệp và lao động thu nhập thấp tại một khu vực đã tạo nên những điều phải lo về điều kiện sống, sự mất cân đối về nhân lực trong khi ở nông thôn ngày càng thưa vắng lao động trong độ tuổi; nhiều cơ sở công nghiệp có chất thải độc hại đang gây ô nhiễm môi trường; những điều bất cập trong chính sách đã cản trở thu hút đầu tư. Trong khi đó, việc xây dựng chiến lược tổng thể, gắn với quy hoạch mũi nhọn ngành, nhằm đạt hiệu ứng lan toả cho toàn bộ nền kinh tế vẫn chưa được ra đời.

Thời báo kinh tế Việt Nam - (10/05/2005)


More

Trang chủ  |   Giới thiệu  |   Định vị  |   Phản hồi  |   Giúp đỡ

Số lượt truy cập: 1587356 © Copyright 2003 Vietnam Development Gateway, All right Reserved, Legal & Privacy Notices.
E-mail: vncgteam@vnn.vn  —   Tel: 84-4-8532313