Today: 3 Jan 2006
  Trang chủ | Giới thiệu | Định vị | Góp ý | Giúp đỡ | English

Kinh tế
Tin tức
Chiến lược và kế hoạch phát triển
Đầu tư nước ngoài
Thương mại
Hội nhập kinh tế quốc tế
Doanh nghiệp
Tài chính ngân hàng
Nông nghiệp - Công nghiệp
Tin tức
Chào mừng đến Việt Nam
Giáo dục - Đào tạo
Chính phủ quản lý
Hợp tác Quốc tế
Khoa học - Công nghệ - Môi trường
Phát triển xã hội
Website phục vụ phát triển
TỶ GIÁ GIAO DỊCH
DIỄN ĐÀN
HỎI/ĐÁP
Hà Nội 14 - 24 oC
Huế 18 - 23 oC
Đà Nẵng 19 - 27 oC
Hồ Chí Minh 22 - 32 oC
  Tin tức

Kinh tế 9 tháng đầu năm: Khả quan nhưng không chủ quan!

Tình hình kinh tế nước ta trong 9 tháng đầu năm có nhiều chuyển biến tích cực trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phục hồi chậm chạp. Tuy nhiên vẫn càng phải có những "bước chạy nước rút" mạnh mẽ hơn trong những tháng còn lại mới hy vọng đạt được chỉ tiêu đề ra cho cả năm, bởi vì đã xuất hiện sự sụt giảm về tốc độ và chất lượng tăng trưởng ở một số ngành và lĩnh vực quan trọng...

Trong tổng kim ngạch xuất khẩu, nhờ có quy mô lớn hơn và đạt tốc độ tăng cao hơn nên tỷ trọng kim ngạch mặt hàng công nghiệp tăng lên, tỷ trọng mặt hàng nông sản giảm xuống.

Thứ nhất, tình hình khả quan trước hết thể hiện ở chỗ kinh tế tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2002, trong điều kiện có nhiều khó khăn do ảnh hưởng của cuộc chiến ở Irắc; dịch SARS; thiên tai diễn ra liên tiếp, hết hạn nặng, kéo dài, trên diện rộng, lại mưa lớn hiếm thấy vào giữa lúc lúa làm đòng trổ bông; kinh tế thế giới hồi phục chậm so với dự đoán; giá nhập khẩu tăng so với cùng kỳ 2002 (như xăng dầu tăng 22,9%, sắt thép tăng 40,3%, riêng phôi thép tăng 34,6%, phân bón tăng 18,2%, riêng urê tăng 28,0%, chất dẻo tăng 16,5%, sợi dệt tăng 18,0%, bông tăng 14,6%, tân dược còn tăng cao hơn..., tính chung giá tăng lên đến trên dưới 15%, làm tăng khoảng trên 2 tỷ USD, chiếm tới 50% tổng mức tăng)...

Thứ hai, tăng trưởng tương đối toàn diện, ở hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của nền kinh tế, trong đó có nhiều chỉ tiêu tăng cao hơn so với tốc độ tăng của cùng kỳ, như GDP (7,1% so với 6,86%); GDP do khu vực công nghiệp - xây dựng tạo ra (10,9% so với 8,93%, trong đó công nghiệp 10,17% so với 8,6%); giá trị sản xuất thuỷ sản (8,6% so với 8,1%); giá trị sản xuất công nghiệp (15,9% so với 14,2%); vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đăng ký (tăng 36,6% so với giảm 56%); kim ngạch xuất khẩu (tăng 25% so với 3,5%); tỷ lệ đạt so với dự toán năm của tổng thu ngân sách (79,6% so với 79%)...

Tỷ trọng của công nghiệp ngoài quốc doanh đã tăng từ 25,9% lên 26,5%, của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 36,3% lên 36,9%, vượt tỷ trọng 36,7% của khu vực doanh nghiệp Nhà nước.


Thứ ba, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng ba khu vực trong GDP chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa: khu vực nông, lâm nghiệp - thuỷ sản giảm xuống còn 21,65%, của khu vực công nghiệp - xây dựng tăng lên đạt 40,34%, trong đó của công nghiệp tăng lên đạt 34,74%, riêng của công nghiệp chế biến tăng lên đạt 21,26%.

Trong giá trị sản xuất lâm nghiệp - thuỷ sản, tỷ trọng của nông nghiệp giảm từ 78,4%, xuống 77,8% (trong nông nghiệp trồng trọt giảm từ 80,3% xuống 79,6%, chăn nuôi tăng từ 17,4% lên 18,1%); thuỷ sản tăng từ 17,7% lên 18,4%. Diện tích lúa giảm 60,7 nghìn ha, khoai lang giảm 19,9 nghìn ha, cà phê giảm 8,8 nghìn ha, dừa giảm 5,3% nghìn ha..., trong khi diện tích ngô tăng 30,2 nghìn ha, bông tăng 5,1 nghìn ha đậu tương tăng 5,5 nghìn ha, chè tăng 7,1 nghìn ha, cao su tăng 8,1 nghìn ha điều tăng 6,9 nghìn ha, hồ tiêu tăng 1,5 nghìn ha, cây ăn quả tăng 24,9 nghìn ha, đàn bò tăng 334 nghìn con, đàn lợn tăng 1,7 triệu con, đàn gia cầm tăng 21 triệu con, diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng 75,4 nghìn ha...

Trong giá trị sản xuất công nghiệp, tỷ trọng của công nghiệp ngoài quốc doanh đã tăng từ 25,9% lên 26,5%, của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 36,3% lên 36,9%, vượt tỷ trọng 36,7% của khu vực doanh nghiệp Nhà nước. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu, nhờ có quy mô lớn hơn và đạt tốc độ tăng cao hơn nên tỷ trọng kim ngạch mặt hàng công nghiệp tăng lên, tỷ trọng mặt hàng nông sản giảm xuống; tỷ trọng mặt hàng chế biến tăng lên, còn mặt hàng thô giảm xuống.

Trong các mặt hàng chủ lực, dệt may đã đạt cao nhất, lên 2.921 triệu USD, tăng 1.013 triệu USD, giày dép đạt 1.639 triệu USD, tăng 856 triệu USD, dầu thô đạt 2.817 triệu USD, tăng 540 triệu USD, thuỷ sản đạt 1.639 triệu USD, tăng 172 triệu USD, điện tử máy tính đạt 482 triệu USD, tăng 131 triệu USD, cà phê đạt 344 triệu USD, tăng 125 triệu USD.

Danh mục mặt hàng chủ lực đã dài thêm do có những mặt hàng có kim ngạch khá bổ sung, như sản phẩm gỗ đạt 393 triệu USD, tăng 110 triệu USD, dây điện và dây cáp điện đạt 204 triệu USD, tăng 75 triệu USD, sản phẩm nhựa đạt 133 triệu USD, tăng 23 triệu, xe đạp và phụ tùng xe đạp đạt 105 triệu USD, tăng 23 triệu. Cơ cấu thị trường cũng có sự thay đổi, riêng Hoa Kỳ đã đạt 1,5 tỷ USD, tăng tới 113% so với cùng kỳ.

Thứ tư, tăng trưởng trong 9 tháng là tiền đề để cả năm có thể hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu chủ yếu. GDP có thể tăng 7,2%, đạt mức trung bình của mục tiêu tăng 7-7,5%. Giá trị sản xuất công nghiệp vượt mục tiêu tăng 14-14,5%. Tổng vốn đầu tư phát triển có thể đạt 217,5 nghìn tỷ đồng, vượt 1,2% kế hoạch và tăng 18,3% so với năm 2002. Tổng kim ngạch xuất khẩu có thể đạt trên 19,5 tỷ USD, tăng 16,7%, vừa vượt kế hoạch (tăng 7,5-8%), vừa cao hơn tốc độ tăng của năm 2002 (11,2%). Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng có thể tăng 12%. Tổng thu ngân sách sẽ vượt dự toán và tăng khá so với năm 2002.

Chất lượng tăng trưởng vẫn còn thấp khi mà chi phí trung gian tăng lên, làm cho mức tăng trưởng giá trị tăng thêm thấp hơn tăng trưởng giá trị sản xuất.


Nhưng không thể chủ quan bởi về số lượng có một số chỉ tiêu còn bị giảm, tốc độ tăng thấp hơn cùng kỳ, thấp hơn mục tiêu và chất lượng tăng trưởng chuyển dịch vẫn còn chậm.

Một là, lượng khách quốc tế đến Việt Nam giảm mạnh (-17,3%), doanh thu du lịch cũng giảm theo (- 11,4%), luân chuyển hành khách bằng đường hàng không giảm (-7,8%), một số sản phẩm công nghiệp (thuốc trừ sâu, thuốc ống, máy công cụ, máy biến thế, xe đạp hoàn chỉnh), kim ngạch một số mặt hàng xuất khẩu như rau quả, hạt tiêu, chè, lạc, gạo, vốn tín dụng... cũng giảm.

Hai là, một số lĩnh vực có tốc độ tăng thấp hơn cùng kỳ. Ðó là GDP do nông, lâm nghiệp - thuỷ sản tạo ra (2,97% so với 4,03%), do khu vực dịch vụ tạo ra (6,48% so với 6,54%), giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp - thuỷ sản (4,7% so với 5,4%), tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (11,7% so với 12%)...

Ba là, những lĩnh vực có tốc độ tăng thấp hơn mục tiêu là: giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp - thủy sản (4,7% so với 5%); giá tiêu dùng (9 tháng tăng 1,8%, ước cả năm khoảng 2,5% so với dưới 5%)... Ngay tốc độ tăng GDP cũng không đạt mức cao 7,5% của mục tiêu.

Chất lượng tăng trưởng vẫn còn thấp khi mà chi phí trung gian tăng lên, làm cho mức tăng trưởng giá trị tăng thêm thấp hơn tăng trưởng giá trị sản xuất (như công nghiệp là 10,17% so với 15,9%); tỷ trọng khu vực dịch vụ tiếp tục bị sút giảm và là năm thứ 8 liên tục bị giảm (1995 đã đạt 44,06% nhưng 9 tháng này chỉ còn 38,01%).

Nhập siêu 9 tháng đã lên đến 3.052 triệu USD, không những vượt xa so với cùng kỳ mà còn lớn hơn mức cả năm trong các năm trước (chỉ thấp hơn mức kỷ lục 3.887 triệu USD của năm 1996).

www.vneconomy.com.vn - (01/10/2003)


More

Trang chủ  |   Giới thiệu  |   Định vị  |   Phản hồi  |   Giúp đỡ

Số lượt truy cập: 1632097 © Copyright 2003 Vietnam Development Gateway, All right Reserved, Legal & Privacy Notices.
E-mail: vncgteam@vnn.vn  —   Tel: 84-4-8532313