Today: 13 Jan 2006
  Trang chủ | Giới thiệu | Định vị | Góp ý | Giúp đỡ | English

Kinh tế
Tin tức
Chiến lược và kế hoạch phát triển
Đầu tư nước ngoài
Thương mại
Hội nhập kinh tế quốc tế
Doanh nghiệp
Tài chính ngân hàng
Nông nghiệp - Công nghiệp
Tin tức
Chào mừng đến Việt Nam
Giáo dục - Đào tạo
Chính phủ quản lý
Hợp tác Quốc tế
Khoa học - Công nghệ - Môi trường
Phát triển xã hội
Website phục vụ phát triển
TỶ GIÁ GIAO DỊCH
DIỄN ĐÀN
HỎI/ĐÁP
Hà Nội 11 - 16 oC
Huế 15 - 21 oC
Đà Nẵng 17 - 23 oC
Hồ Chí Minh 21 - 29 oC
  

Chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội 2001-2010 và kế hoạch 5 năm 2001-2005

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010 của Việt Nam đã được xác định là Chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp với mục tiêu tổng quát : "Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”.

Cần xác định rõ những tư tưởng cơ bản và một số vấn đề chủ yếu của chiến lược 10 năm và kế hoạch 5 năm như sau :

1 - Về con đường công nghiệp hóa của Việt Nam.

Đây là con đường công nghiệp hóa rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, gắn công nghiệp hóa (CNH) với hiện đại hóa (HĐH) trong từng bước đi, gắn CNH, HĐH với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Tận dụng tối đa những điều kiện mới của thế giới ngày nay, nhất là những bước tiến của cách mạng khoa học và công nghệ, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, có những bước đi tuần tự, đồng thời có những bước tiến nhảy vọt. Vừa tập trung sức phát triển mạnh công nghiệp, vừa đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn; phát huy cao nhất mọi nguồn nội lực, trong đó nguồn lực con người có năng lực và trí tuệ là quan trọng và quyết định nhất; đồng thời tranh thủ tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài, tạo thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước.

Để rút ngắn thời gian CNH, thu hẹp khoảng cách phát triển so với các nước chung quanh, chúng ta phải phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhanh, ít nhất là cao hơn nhịp độ tăng trưởng bình quân của các nước trong khu vực trong một thời gian tương đối dài, đi đôi với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô để tăng trưởng bền vững.

Chiến lược xác định 10 năm tăng ít nhất gấp 2 lần GDP (7,2%/năm). Do vậy, trong khi tiếp tục khai thác các tiềm năng để phát triển theo chiều rộng, chúng ta phải đặt trọng tâm vào nâng cao chất lượng tăng trưởng gắn với việc nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trên cơ sở đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, chuyển dịch và nâng cấp cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH; từng bước phát triển kinh tế tri thức.

Phát triển nhanh phải đi liền với phát triển bền vững, gắn kết sự phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, gìn giữ và cải thiện môi trường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

- Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững. Để bảo đảm công bằng xã hội, cần chú ý các yếu tố cơ bản như : tạo cơ hội đồng đều cho sự phát triển của mọi người, tập trung vào giải quyết việc làm (đến năm 2010 tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị còn dưới 5%, quỹ thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn đạt 80 - 85%; đến năm 2005, các chỉ tiêu này tương ứng là 5,4% và 80%); nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực. Nhà nước vừa thúc đẩy phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, vừa quan tâm nhiều hơn tăng cường cho những vùng, những cộng đồng nhiều khó khăn để sớm xóa đói, giảm nhanh số hộ nghèo (theo tiêu chuẩn hiện nay, đến năm 2005 còn 10% và đến năm 2010 cơ bản không còn loại hộ này), cải thiện đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân.

- Bảo vệ và cải thiện môi trường vừa là nhiệm vụ bức xúc vừa là vấn đề chiến lược lâu dài; phải có giải pháp khắc phục tác động của thiên tai, của sự biến động khí hậu bất lợi và hậu quả chiến tranh còn lại đối với môi trường tự nhiên của Việt Nam.

2. Xây dựng nền tảng của một nước công nghiệp.

Để đạt được mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì giai đoạn từ nay đến 2010 phải xây dựng được nền tảng của một nước công nghiệp với những yếu tố chủ yếu sau đây :

- Xây dựng tiềm lực kinh tế và cơ sở vật chất - kỹ thuật đáp ứng yêu cầu phát triển, bao gồm : kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; nền công nghiệp có sức cạnh tranh, trong đó có một bộ phận công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng có lựa chọn, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp quốc phòng; nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn hướng tới hiện đại; phát triển mạnh các ngành dịch vụ cơ bản; tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ.

Trong phát triển công nghiệp, vừa phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động, vừa áp dụng công nghệ tiến bộ, đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao (tin học, sinh học, vật liệu mới, tự động hóa..). Phát triển mạnh công nghiệp chế biến, nông lâm thủy sản, công nghiệp hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng then chốt, phù hợp với điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường, phát huy được tác dụng và hiệu quả cần thiết... Phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, hình thành các cụm công nghiệp lớn; đồng thời phát triển rộng khắp các cơ sở công nghiệp nhỏ và vừa với ngành nghề đa dạng. Trong 10 năm tới, tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp và xây dựng khoảng 10 - 10,5%/năm : đến năm 2010 công nghiệp và xây dựng chiếm 40 - 41% GDP, sử dụng 23 - 24% lao động.

Về kết cấu hạ tầng, phát triển năng lượng đi trước một bước, bảo đảm an toàn năng lượng quốc gia. Phát triển mạng lưới thông tin hiện đại. Hoàn thiện, nâng cấp, xây dựng mới nhiều tuyến đường giao thông ; phát triển mạnh giao thông nông thôn. Cung cấp đủ nước sạch cho đô thị và trên 90% dân cư nông thôn.

Phát triển mạnh dịch vụ thương mại, vận tải, bưu chính - viễn thông, du lịch, các dịch vụ tài chính - tiền tệ, kỹ thuật, tư vấn... Tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ 7 - 8%/năm, đến năm 2010 chiếm 42 - 43% GDP, 26 - 27% lao động.

- Phát triển mạnh nguồn lực con người Việt Nam. Con người là động lực chủ yếu của quá trình sản xuất, là trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Do vậy, cần phải xác định rõ việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.

- Hình thành về cơ bản và vận hành thông suốt, có hiệu quả thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

3 - Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Đây là một vấn đề quan trọng và khó khăn bậc nhất trong quá trình CNH, HĐH, có ý nghĩa rất quyết định đối với thành công của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để triển khai có hiệu quả, cần phải thực hiện đồng thời 3 nhiệm vụ sau :

- Một là, phải đưa nông nghiệp lên thành nền kinh tế hàng hóa lớn có chất lượng ngày càng cao. Các biện pháp kỹ thuật, công nghệ tiên tiến được áp dụng rộng rãi. Trong 5 - 10 năm tới sẽ chú trọng bảo đảm an ninh lương thực; phát triển các vùng cây công nghiệp, rau quả gắn với công nghiệp chế biến; phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm chăn nuôi; phát triển mạnh thủy sản vươn lên hàng đầu trong khu vực; nâng độ che phủ rừng lên 43%; giải quyết tốt vấn đề thị trường tiêu thụ và giá cả nông sản. Bảo đảm giá trị gia tăng nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân hàng năm 4,0 - 4,5%, năm 2010 tỷ trọng nông nghiệp trong GDP còn 16 - 17%.

- Hai là, công nghiệp vùng nông thôn phải được tạo dựng và phát triển, các dịch vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân cũng được phát triển mạnh và đa dạng. Lao động nông nghiệp hiện nay còn chiếm khoảng 63% tổng số lao động, dự kiến đến năm 2010 sẽ còn khoảng 50% và năm 2020 sẽ còn thấp hơn nữa (khoảng 25 - 30%).

- Ba là, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn : mạng lưới đường sá, cung cấp điện và nước sạch, mạng lưới bưu chính - viễn thông, mạng lưới đô thị... Nâng cao không ngừng đời sống vật chất và văn hóa của dân cư nông thôn.

4 - Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

Những bài học cả thành công và thất bại trong phát triển kinh tế đều cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của chiến lược kinh tế mở. Do vậy, nền kinh tế độc lập tự chủ mà chúng ta xây dựng vẫn là một nền kinh tế mở và ngày càng mở. Trước hết là độc lập tự chủ về đường lối phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh CNH, HĐH để có tiềm lực kinh tế, khoa học và công nghệ, cơ sở vật chất - kỹ thuật đủ mạnh; giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; bảo đảm nền kinh tế đủ sức đứng vững và phát triển trong mọi tình huống phức tạp.

Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ phải đi đôi với hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, kết hợp nội lực và ngoại lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho sự phát triển. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trên nguyên tắc giữ vững độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ quyền quốc gia và bản sắc văn hóa dân tộc ; bình đẳng cùng có lợi, vừa hợp tác vừa đấu tranh; đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại; chủ động về lộ trình, tranh thủ thời cơ, khắc phục và hạn chế các mặt bất lợi, rủi ro.

Trong chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, phải tập trung ưu tiên giải quyết các vấn đề sau đây :

- Phát huy lợi thế, tăng cường sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, của hàng hóa và của cả nền kinh tế, giảm dần hàng rào bảo hộ.

- Nâng cao chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế, hiệu quả hợp tác quốc tế.

- Tăng nhanh tích lũy từ nội bộ nền kinh tế, dự kiến đến năm 2010 sẽ đạt trên 30% GDP.

- Tăng nhanh tổng kim ngạch xuất khẩu (dự kiến nhịp độ tăng xuất khẩu gấp trên 2 lần nhịp độ tăng GDP).

- Tập trung thu hút vốn đầu tư bên ngoài vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghiệp cao (dự kiến trong 5 năm 2001 - 2005 sẽ thu hút đưa vào thực hiện trong nền kinh tế khoảng 9 - 10 tỉ USD). Thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) (dự kiến trong 5 năm 2001 - 2005 sẽ giải ngân được 10 - 11 tỉ USD).

5 - Đổi mới hệ thống các chính sách kinh tế và xã hội.

Để giải phóng triệt để sức sản xuất, tạo động lực và nguồn lực mạnh mẽ cho sự phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững, phải đẩy mạnh hơn nữa công cuộc đổi mới một cách sâu rộng và đồng bộ, cả về kinh tế, xã hội và bộ máy nhà nước. Những năm tới, chú trọng đổi mới hệ thống các chính sách kinh tế và xã hội, từng bước hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

- Cải thiện môi trường pháp luật và kinh tế để cho mọi tổ chức kinh doanh theo mọi thành phần kinh tế đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật, tất cả đều là những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là một công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò then chốt trong một số ngành, lĩnh vực và cơ sở công nghiệp quan trọng. Thực hiện việc cơ cấu lại (sắp xếp lại, cổ phần hóa, giao, bán, khoán, cho thuê tài sản, phá sản...) và cải tiến quản lý doanh nghiệp nhà nước.

- Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường. Ngoài các loại thị trường đã hình thành về hàng hóa và một số dịch vụ, cần phát triển thị trường vốn và tiền tệ, thị trường bất động sản, bao gồm cả quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, thị trường sức lao động, thị trường các loại dịch vụ khoa học, công nghệ, sản phẩm trí tuệ, bảo hiểm, tư vấn...

- Đổi mới và tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước về kinh tế.

Chức năng cơ bản của Nhà nước về kinh tế là : định hướng phát triển (bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách); tạo môi trường pháp lý và kinh tế cho các chủ thể kinh tế hoạt động và cạnh tranh lành mạnh; điều tiết hoạt động và phân phối lợi ích một cách công bằng, thông qua việc sử dụng các công cụ ngân sách, thuế khóa, tín dụng... ; kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh tế theo đúng luật pháp và chính sách.

Nhà nước tôn trọng nguyên tắc và cơ chế hoạt động khách quan của thị trường, tạo điều kiện để hình thành và phát triển thị trường, nhưng giảm mạnh sự can thiệp trực tiếp bằng biện pháp hành chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

Trong thời gian tới, việc đổi mới công tác quản lý của Nhà nước tập trung vào 4 khâu quan trọng và cấp thiết nhất : cải cách tài chính, cải cách ngân hàng, cải cách doanh nghiệp và cải cách hành chính. Chiến lược và kế hoạch 5 năm đã đề ra nhiều giải pháp cụ thể để đổi mới chính sách và hệ thống tài chính ngân hàng, đổi mới và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.

Cùng với đổi mới và phát triển kinh tế, cũng rất coi trọng việc đổi mới thể chế quản lý và phát triển các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, xã hội. Hướng chủ yếu là tăng cường sự chỉ đạo, hỗ trợ và quản lý của Nhà nước đi đôi với đẩy mạnh xã hội hóa đúng đắn các hoạt động trong lĩnh vực này.

6 - Mục tiêu và chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 2001 - 2005.

Kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 là bước rất quan trọng trong việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010. Mục tiêu của kế hoạch được xác định là : Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững ; cải thiện đời sống nhân dân. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH. Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người. Tạo nhiều việc làm, cơ bản xóa đói, giảm số hộ nghèo; đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Tiếp tục tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; hình thành một bước quan trọng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia.

Các chỉ tiêu định hướng chủ yếu của kế hoạch 5 năm là :

- Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân hằng năm thời kỳ 5 năm 2001 - 2005 là 7,5%. Tổng giá trị GDP năm 2005 gấp 2 lần so với năm 1995.

- Đến năm 2005, tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 20 - 21% GDP; công nghiệp và xây dựng khoảng 38 - 39%; các ngành dịch vụ 41 - 42%.

- Tiếp tục củng cố và duy trì mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học. Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

- Giảm tỷ lệ sinh bình quân hằng năm 0,5%o; tốc độ phát triển dân số vào năm 2005 khoảng 1,2%.

- Tạo việc làm, giải quyết thêm việc làm cho khoảng 7,5 triệu lao động, bình quân 1,5 triệu lao động/năm; nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 30% vào năm 2005. Cơ bản xóa hộ đói, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 10% vào năm 2005. Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống còn 22 - 25% vào năm 2005. Nâng tuổi thọ bình quân lên 70 tuổi. Cung cấp nước sạch cho 60% dân số nông thôn.

7 - Về tổ chức thực hiện chiến lược và kế hoạch.

Vấn đề quan trọng và quyết định nhất là phải tổ chức thực hiện cho tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch 5 năm, cần lưu ý một số biện pháp cơ bản sau :

1 - Đột phá những lĩnh vực then chốt. Để tạo ra sự chuyển động toàn bộ tình hình kinh tế - xã hội, cần tập trung sức đột phá vào 3 lĩnh vực sau :

Một là, Xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà trọng tâm là đổi mới cơ chế chính sách nhằm giải phóng triệt để lực lượng sản xuất, mở rộng thị trường trong và ngoài nước.

Hai là, Tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực, trọng tâm là giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ.

Ba là, Đổi mới tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, trọng tâm là cải cách hành chính, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh.

2 - Cải tiến và tăng cường các biện pháp tổ chức thực hiện với nội dung chủ yếu là :

- Nâng cao chất lượng của việc hoạch định các chính sách cụ thể, chú ý tới tính đặc thù của các ngành và các vùng, các địa phương.

- Đổi mới cơ bản công tác kế hoạch theo hướng tăng cường dự báo, đặc biệt là dự báo và tính toán các cân đối lớn trong nền kinh tế cho từng thời kỳ phát triển; nâng cao chất lượng kế hoạch định hướng, giữ vững các cân đối vĩ mô, kết hợp chặt chẽ với việc sử dụng các công cụ chính sách kinh tế, luật pháp, tạo điều kiện cho thị trường hoạt động có hiệu quả, nhằm bảo đảm các mục tiêu của chiến lược và kế hoạch.

- Nâng cao chất lượng các quy hoạch phát triển tổng thể và cụ thể. Kế hoạch 5 năm trở thành công cụ kế hoạch chủ yếu, được điều chỉnh, bổ sung hàng năm cho phù hợp với tiến độ thực hiện kế hoạch và những diễn biến mới của tình hình trong, ngoài nước. Việc xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch, phải thể hiện tư tưởng chỉ đạo và nội dung của chiến lược, đặc biệt là để khai thác tối đa tiềm năng của các ngành, các địa phương cũng như của cả nền kinh tế.

- Tăng cường theo dõi, kiểm tra việc triển khai thực hiện chiến lược và kế hoạch của các cơ quan quản lý nhà nước. Đồng thời, mở rộng dân chủ, phát huy vai trò giám sát, góp ý kiến của nhân dân, thu hút trí tuệ của nhân dân, thực hiện tốt phương châm : dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra trong quá trình thực hiện chiến lược và kế hoạch.

3 - Cần xác định và tuyên truyền thật sâu rộng để tạo ra nhận thức thống nhất coi việc thực hiện chiến lược và kế hoạch 5 năm là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân, của Chính phủ, của tất cả các ngành, các tổ chức kinh tế và xã hội từ trung ương đến cơ sở. Chính phủ, mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi đơn vị cơ sở đều phải có chương trình hành động cụ thể để tổ chức thực hiện có hiệu quả trong từng bước. Từ đó, tạo ra phong trào thi đua sôi nổi trong cả nước phấn đấu thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ của chiến lược và kế hoạch.

http://www.tapchicongsan.org.vn/ - (27/07/2003)


Trang chủ  |   Giới thiệu  |   Định vị  |   Phản hồi  |   Giúp đỡ

Số lượt truy cập: 1665425 © Copyright 2003 Vietnam Development Gateway, All right Reserved, Legal & Privacy Notices.
E-mail: vncgteam@vnn.vn  —   Tel: 84-4-8532313