Bài phát biểu của ông Phạm Long Trận - Tổng giám đốc Tổng Công ty Bưu chính
Viễn thông Việt Nam tại diễn đàn doanh nghiệp Á – Âu lần thứ 9
Sáng nay, 7/10/2004, khai mạc Diễn đàn
doanh nghiệp Á – Âu lần thứ 9. Ông Phạm Long Trận - Tổng giám đốc Tổng Công ty
Bưu chính Viễn thông Việt Nam đến dự và tham luận tại diễn đàn.
Kính thưa quý vị,
Tôi rất vinh dự được thay mặt
cho cộng đồng doanh nghiệp Châu Á nói chung và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam
nói riêng tham dự và phát biểu tại diễn đàn doanh nghiệp Á – Âu AEBF 9, một
trong những hoạt động quan trọng bên lề hội nghị cấp cao ASEM 5 được tổ chức
tại Việt Nam. Tôi xin gửi tới tất cả các quý vị lời chào nồng nhiệt nhất
Diễn đàn AEBF là một hoạt
động tương tác trong cộng đồng các doanh nghiệp Á – Âu trong bối cảnh quan hệ
kinh tế giữa hai châu lục rất giầu tiềm năng đang dần đi vào chiều sâu, chặt
chẽ, thực chất, sống động và hấp dẫn hơn.
Để hợp tác kinh tế được đặt
đúng tầm vóc của nó, diẽn đàn AEBF không những là cơ hội cho mỗi chúng ta
quảng bá hình ảnh của mình, trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động quản trị,
kinh doanh với nhau mà quan trọng hơn còn tạo điều kiện để các doanh nghiệp
bày tỏ được nguyện vọng, thống nhất được các giải pháp khuyến nghị lên các nhà
lãnh đạo tại hội nghị cấp cao ASEM 5, nhằm thúc đẩy các hoạt động giao lưu
thương mại, đầu tư giữa hai châu lục, tăng cường hội nhập quốc tế.
Với chủ dề “Hợp tác giữa hai
cộng dồng doanh nghiệp châu Á và châu Âu trong tiến trình ASEM” tôi xin đề cập
một số nội dung chủ yếu sau đây:
Đặc trung của thời đại này là
xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ. Trong bối cảnh này,
các quốc gia, các khu vực ở hai cộng đồng Á – Âu chúng ta đang và sẽ ngày càng
phát triển năng động, thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hợp tác và tác động lẫn nhau …
Trên bước đường dẫn đến một nền kinh tế toàn cầu trong sự nhộn nhịp của các
hoạt động buôn bán và đầu tư xuyên quốc gia, xuyên châu lục, chúng ta còn thấy
khá nhiều “mảng tối” làm lu bớt những gam màu sáng đẹp của nó.
Do vậy, trước hết chúng tôi
thấy cần thiết phải có những thay đổi cơ bản trong mối quan hệ Á – Âu nói
chung và mối quan hệ tương tác và đối tác Á – Âu nói riêng, để trên nền tảng
đó tiến hành các bước cần thiết , hướng tới xây dựng một thế giới công bằng,
bình đẳng, giao hoà và giữ gìn được từng bản sắc văn hoá trong giao lưu thương
mại, hợp tác đầu tư, phát triển kinh tế xã hội bền vững, vì lợi ích chung của
tất cả các thành viên ở cả hai cộng đồng các doanh nghiệp chúng ta
Ở đây chúng tôi muốn nhấn
mạnh đến những giải pháp đề phòng và đối phó với một số hiệu ứng mặt trái của
mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước giàu và các nước nghèo, giữa hai
cộng đồng doanh nghiệp Á – Âu như: chênh lệch trong phát triển, mức độ rủi ro
của hệ thống kinh tế , tài chính trong giao lưu thương mại, đầu tư mà trước
hết có thể các nước nghèo ở châu Á sẽ gánh chịu nhiều nhất do hệ thống chính
trị quốc gia đưa ra những nhân tố bất bình đẳng trong quan hệ kinh tế dối
ngoại gồm hạn ngạch (quota), hàng rào ưu đãi thuế quan phổ cập (GPS), luật
chống bán phá giá, hạn chế tiếng nói và vai trò trong các tổ chức tài chính,
ngân hàng thương mại thế giới … Chính vì thế mà trong chính sách kinh tế đối
ngoại, quan điểm của Chính phủ Việt Nam rất đơn giản, đó là các bên đều thu
được lợi ích chính đáng của mình. Đây cũng là cơ sở cho ý muốn của ASEM 5 mở
ra định hướng các giải pháp, trong đó một mặt coi trọng sự can thiệp của Nhà
nước, một mặt cần hết sức nhấn mạnh đến vai trò phối hợp quốc tế và sửa đổi
phát triển không đồng đều… nhằm tạo ra cơ hội phát triển nhanh cho các doanh
nghiệp ở các nước nghèo châu Á còn đang phản ứng chậm chạp trước tiến trình
hợp tác chính trị kinh tế quốc tế, dẫn đến những thiệt hại khó lường.
Ngoài ra sau khi EU mở rộng,
các doanh nghiệp Việt Nam và châu Á có cơ hội tiếp cận một trong những thị
trường lớn nhất thế giới với ần 500 triệu dân, chiếm 30% kim ngạch thương mại
và 46% nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên thế giới. Do vậy, chúng
tôi hy vọng trong tuyên bố Hà Nội về mối quan hệ đối tác kinh tế Á – Âu sẽ
được thông qua tại ASEM 5 có định hướng khuyến khích các quốc gia tạo dựng và
điều chỉnh cơ chế chính sách phù hợp với trào lưu hội nhập quốc tế về các
phương diện: đầu tư ra nước ngoài , xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài, xúc
tiến du lịch, giao lưu thương mại…theo chiều hướng tích cực. Khuyến khích mở
rộng diện miễn visa song phương và đa phương cũng là một hoạt động nằm trong
tiến trình hợp tác chung về du lịch, tìm kiếm cơ hội đầu tư và thu hút đầu tư,
tìm kiếm cơ hội kinh doanh, thúc đẩy thương mại giữa các doanh nghiệp Á – Âu
Trong hợp đồng với Việt Nam,
nhiều nước ở châu Á cũng có nền nông nghiệp, công nghiệp, kinh tế đối ngoại,
du lịch… đang phát triển. Kim ngạch xuất khẩu những mặt hàng có sử dụng nhiều
lao động sống của họ qua EU (như dệt may, giày dép, lắp ráp điện tử, tiểu thủ
công, mỹ nghệ, nông thuỷ sản …) tuy những năm gần đây có tăng nhanh, song vẫn
còn rất khiêm tốn và chưa tương xứng với tiềm năng của hai bên, hoặc còn bị
hạn chế về thị phần và các kênh phân phối. Ngành du lịch của một số nước châu
Á còn nhiều tiềm năng chưa khai thác, việc thu hút khách đến từ EU còn ít ỏi.
Hầu hết các nước châu Á này trong đó có Việt Nam thu hút vốn FDI của EU chiếm
chưa đến 10% trong tống vốn đầu tư nước ngoài.
Vì thế chúng tôi mong muốn
cộng đồng các doanh nghiệp EU và các doanh nghiệp có nền kinh tế mạnh ở châu Á
hãy chia sẻ với chúng tôi kinh nghiệm ở các phương diện như : nâng cao sức
cạnh tranh của các sản phẩm, phương thức kinh doanh ở các thị trường quốc tế
khó tính nhưng phong phú về thị hiếu tiêu dùng xuất phát từ tính đa dạng về
tập quán và bản sắc văn hoá; chia sẻ kinh nghiệm về quảng cáo bán hàng, tìm
kiếm thị trường, thiết kế và sự nhạy bén trong thay đổi mẫu mốt, kiểu dáng sản
phẩm; nâng cao hợp tác trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, sản xuất; đào
tạo và nâng cao trình độ, tay nghề cho người lao động; nâng cao trình độ quản
lý doanh nghiệp và quản trị kinh doanh, trình độ quảng bá du lịch; hỗ trợ các
chính phủ để xây dựng, sửa đổi, quản lý các chế độ chính sách trong quan hệ
kinh tế đối ngoại sao cho phù hợp với các luật và điều ước quốc tế nói chung
và trong và trong quan hệ với các thành viên EU nói riêng… Có như vậy, những
doanh nghiệp ở các ước châu Á có hoàn cảnh như Việt Nam mới nhanh chóng nắm
bắt và tận dụng được các cơ hội hội nhập quốc tế, giảm thiểu được các thách
thức, khó khăn do khả năng còn bị hạn chế của mình.
Cần nhấn mạnh thêm, việc đổi mới kỹ
thuật, chuyển giao công nghệ mới, đào tạo nguồn nhân lực xét về chiến lược là
khẩu hiệu chính đối với các nhà sản xuất – kinh doanh ở các nước còn nghèo như
Việt Nam. Vì vậy chúng tôi mong rằng cộng đồng các doanh nghiệp Châu Âu và các
nước phát triển khác cần có những cơ chế mềm dẻo thích hợp và thể hiện tính
bình đẳng , công bằng, hợp tác giúp đỡ các nước nghèo khi chuyển giao công
nghệ, trong đó bao gồm chuyển giao cả phần cứng và phần mềm, linh hoạt cho
từng đối tượng, linh hoạt cả về phương thức, thị trường chuyển giao… trên cơ
sở mong muốn chung là hẹp dần khoảng cách, hướng tới sự phát triển đồng đều .
Kính thưa quý vị đại
biểu,
Mục đích của diễn đàn doanh
nghiệp Á- Âu hôm nay là nhằm phát triển hơn nữa các quan hệ kinh tế thương mại
và đầu tư giữa các doanh nghiệp ở hai châu lục. Chắc các quý vị cũng nhất trí
Bưu chính Viễn thông (BC- VT) là một trong những cơ sở hạ tầng quan trọng cho
việc phát triển quan hệ kinh tế, buôn bán và đầu tư và cũng là một lĩnh vực có
tiềm năng hợp tác kinh doanh giữa các nước ở hai châu lục chúng ta. Hôm nay,
thay mặt cho Tổng công ty BC - VT Việt Nam tôi xin được giới thiệu đôi nét về
ngành BC - VT Việt Nam trong đó Tổng Công ty chúng tôi đang chiếm thị phần
lớn.
Trong hơn 10 năm qua, Tổng
Công ty BC – VT Việt Nam đã có nỗ lực lớn trong việc phát triển một mạng lưới
thông tin liên lạc và dịch vụ viễn thông hiện đại, phủ khắp mọi miền đất nước
, phục vụ phát triển kinh tế xã hội. Từ một mạng lưới viễn thông nhỏ bé và lạc
hậu với mật độ điện thoại chỉ có 0,18% vào năm 1991 thì đến hết tháng 9/2004
đã có khoảng 9 triệu thuê bao trên cả nước, đạt mật độ 11% (trong đó gần 4
triệu thuê bao điện thoại di động)- gấp 60 lần trước đây.
Chúng tôi bắt đầu đầu tư công
nghệ hiện đại, sử dụng kỹ thuật số từ những năm 1990. Đến nay, hệ thống truyền
dẫn vệ tinh, cáp quang và viba số trải rộng và phủ khắp toàn quốc, kết nối và
liên thông quốc tế; 100% mạng lưới được số hoá và đang chuyển dần sang mạng
NGN. Các dịch vụ viễn thông phổ biến trên thế giới và khu vực hiện nay đều có
ở Việt Nam. Bên cạnh các dịch vụ cố diịnh và di động với nhiều dịch vụ giá trị
gia tăng phát triển thêm, hàng loạt dịch vụ viễn thông và Internet, đa phuơng
tiện đã được cung cấp phục vụ kịp thời nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng.
Mạng lưới bưu cục cũng có mặt hầu hết ở khắp mọi nơi, với nhiều loại hình dịch
vụ như các dịch vụ truyền thống, dịch vụ tài chính bưu chính, dịch vụ chuyển
phát nhanh và các dịch vụ giá trị gia tăng, sẵn sàng phục vụ các nhu cầu về
bưu chính. Vì vậy, nếu quý vị buôn bán, đầu tư ở Việt Nam, dù hoạt động ở
thành phố hay vùng nông thôn; miền núi, dịch vụ bưu chính viễn thông luôn luôn
được đảm bảo.
Dự phát triển liên tục vừa
qua đã đưa BC – VT Việt Nam vào hàng ngũ 1 trong 10 nước hàng đầu về các tiêu
chí mức độ tăng trưởng, mức độ hiện đại và vùng phục vụ. Một trong những
nguyên nhân quan trọng dẫn đến thành công của Bưu điện Việt Nam là biết coi
trọng và phát huy vai trò hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực BC- VT và công
nghệ thông tin. Trong mọi lĩnh vực hợp tác của Tổng Công ty BC- VT Việt Nam ,
các đối tác đến từ châu Âu và châu Á luôn chiếm vị trí quan trọng và thị phần
ưu thế trên mạng lưới BC – VT của chúng tôi. Có thể kể ra một vài ví dụ về sự
hợp tác đó như sau:
-Trong số
8 hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) mà Tổng Công ty ký với các đối tác nước
ngoài trong lĩnh vực khai thác dịch vụ, 5 BCC đã được ký với các đối tác Á –
Âu như: Comvik/Kinnevik (Thuỵ Điển), Korea Telecom (Hàn Quốc), NTT (Nhật Bản),
Sapura (Malaysia), France Telecom (Pháp) với tổng trị giá đầu tư khoảng gần
900 triệu USD trong số 1,2 tỷ USD
-Trong
lĩnh vực sản xuất công nghiệp, trong số 8 liên doanh giữa Tổng Công ty với các
đối tác nước ngoài để sản xuất các thiết bị truyền dẫn (transmission), chuyển
mạch (switching), cáp quang và cáp đồng(optical and copper cables) thì 7 liên
doanh có các đối tác thuộc cộng đồng Á – Âu gồm: Alcatel (Pháp), Siemens (Đức),
NEC, Fujitsu (Nhật), LG (Hàn Quốc), Daesung (Hàn Quốc), với tổng đầu tư gần
100 triệu USD.
-Trong
lĩnh vực cung cấp các thiết bị và công nghệ viễn thông chính cho mạng lưới của
Việt Nam, các đối tác đến từ các nước Á – Âu như Alcatel (Pháp), Siemen (Đức),
Ericsson (Thuỵ Điển), LG (Hàn Quốc), NEC, Fujitsu (Nhật Bản) cũng chiếm thị
phần ưu thế.
Chúng tôi cũng có quan hệ
trong khai thác bưu chính, viễn thông với hầu hết các quốc gia và nhà khai
thác trong khu vực Á – Âu, một mặt hỗ trợ đắc lực về thông tin cho quan hệ
quốc tế của đất nước, mặt khác tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng để tiếp tục
đầu tư.
Chúng tôi đánh giá cao sự hợp
tác giữa Tổng Công ty BC – VT Việt Nam với các đối tác từ các nước Á – Âu
trong thời gian qua. Thông quan các mối quan hệ hợp tác này, Tổng Công ty BC-
VT Việt Nam đã nhận được nhiều trợ giúp về nguồn vốn, đào tạo, kỹ thuật cũng
như kinh nghiệm quản lý và kinh doanh, đặc biệt là sự hiểu biết , tôn trọng
lẫn nhau không ngừng được tăng cường và củng cố.
Hiện nay Việt Nam đã có chiến
lược phát triển ngành BC- VT và công nghệ thông tin đến 2010 và tầm nhìn đến
2020được chính phủ Việt Nam phê duyệt, trong đó nhấn mạnh đến khuyến khích các
thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia phát triển công nghệ BC – VT
và tin học; các hình thức đầu tư nước ngoài có chuyển giao công nghệ cao, hiện
đại, kể cả hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài; khuyến khích sản xuất các sản
phẩm có chất lượng quốc tế… Cũng như các ngành kinh tế khác của Việt Nam,
ngành BC- VT sẽ đẩy nhanh tiến trình nâng cao giá trị lao động Việt Nam trong
các sản phẩm, tiếp tục xoá bỏ độc quyền kinh doanh, chuyển mạnh sang thị
trường cạnh tranh của mọi thành phần kinh tế trong mối quan hệ giữ vứng vai
trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước.
Thưa quý vị,
Chúng tôi tin tưởng rằng Việt
Nam với dân số hơn 80 triệu người, nằm ở vị trí địa lý trung tâm khu vực Đông
Nam Á, với nguồn nhân lực được đào tạo, với một hạ tầng cơ sở BC – VT, công
nghệ thông tin hiện đại cũng như chiến lược phát triển rõ ràng sẽ có một thị
trường BC- VT, công nghệ thông tin nhiều tiềm năng, sẵn sàng mở ra những khả
năng hợp tác và kinh doanh với các bạn hữu từ cộng đồng Á – Âu
Chúng tôi cũng mong muốn rằng
từ kết quả của diễn đàn doanh nghiệp này, chúng ta sẽ tiếp tục củng cố mối
liên kết và hợp tác giữa hai cộng đồng doanh nghiệp Á – Âu tốt hơn vì một thế
giới tốt đẹp và công bằng hơn.
Tôi xin bày tỏ sự cám ơn đến
quý vị đã chú ý theo dõi bài phát biểu này. Nhân đây, tôi cũng xin cảm ơn Ngài
Chủ tịch AEBF 9 đã tạo điều kiện cho tôi được trình bày ý kiến tại phiên khai
mạc này .
Xin chúc diễn đàn AEBF 9
thành công tốt đẹp và chúc quý vị đại biểu sức khoẻ dồi dào!