Với chính
sách đối ngoại tự chủ, độc lập, mở rộng, đa phương hoá, đa dạng hóa quan hệ
quốc tế, đồng thời nhận thức rõ tầm quan trọng của cơ chế đối thoại Á-Âu đối
với hoà bình, ổn định, hợp tác phát triển trong khu vực và trên thế giới, Việt
Nam đã tích cực tham gia ngay từ đầu vào các nỗ lực thành lập Diễn đàn Hợp tác
Á-Âu (ASEM), trong đó có sự chuẩn bị về song phương và đa phương trong khuôn
khổ ASEAN.
Mặc dù gặp
khó khăn, song được sự hỗ trợ tích cực của cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã hoàn
thành tốt trách nhiệm của một quốc gia thành viên tích cực ngay từ khi ASEM
được hình thành tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 3/1996, và ngày càng chủ động
hơn trong việc triển khai các thỏa thuận và đóng góp cho ASEM trên cả 3 lĩnh
vực đối thoại chính trị, hợp tác kinh tế và hợp tác trong các lĩnh vực khác,
đăng cai một số cuộc họp ASEM, đề xuất nhiều sáng kiến thiết thực. Đặc biệt,
Việt Nam đã đảm nhiệm tốt vai trò điều phối viên châu Á kể từ Hội nghị Cấp cao
ASEM 3 đến nay. Với những đóng góp quan trọng của Việt Nam cho Diễn đàn Hợp
tác Á-Âu, các thành viên đã nhất trí ủng hộ Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị
cấp cao ASEM 5 tại Hà Nội vào hai ngày 8 và 9/10 tới.
Về lĩnh
vực chính trị: Việt Nam đã tham gia đầy đủ và có hiệu quả vào các sinh hoạt
chính trị của ASEM. Sự tham dự của các vị lãnh đạo Việt Nam tại các kỳ Hội
nghị Cấp cao, như Thủ tướng Võ Văn Kiệt tại ASEM 1, Thủ tướng Phan Văn Khải
tại ASEM 2 và 3, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm tại
ASEM 3, đã chứng tỏ sự coi trọng của Việt Nam đối với ASEM. Việt Nam đã cử
đoàn tham dự các Hội nghị Bộ trưởng, các cuộc họp ASEM SOM, họp điều phối viên.
Tại các
hội nghị đó, Việt Nam tham gia tích cực vào quá trình thảo luận, xây dựng các
văn kiện như Khuôn khổ hợp tác Á-Âu, các Tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị nhằm
xác định mục tiêu, nguyên tắc, cơ chế, ưu tiên, định hướng cho hợp tác ASEM,
góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển và làm phong phú thêm nội dung hợp
tác giữa hai châu lục.
Trong khi
Á-Âu có sự khác biệt về quan tâm và thứ tự ưu tiên hợp tác, Việt Nam đã phối
hợp cùng các thành viên châu Á khác kiên trì nguyên tắc đối thoại bình đẳng,
dành ưu tiên cao nhất cho hợp tác cùng có lợi; bảo đảm đối thoại chính trị
tiến hành trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công
việc nội bộ, nhằm mở rộng điểm đồng, tăng cường hiểu biết lẫn nhau, tạo bầu
không khí ngày càng thuận lợi cho đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực khác. Đề
xuất của Việt Nam đưa hợp tác ASEM, nhất là hợp tác kinh tế đi vào thực chất
tại Hội nghị Cấp cao ASEM 5 đã được các thành viên hoan nghênh, chứng tỏ khả
năng góp tiếng nói tích cực điều hòa lợi ích giữa các thành viên ASEM của Việt
Nam.
Trong đối
thoại chính trị, Việt Nam đã tích cực đóng góp vào nỗ lực chung bảo vệ hòa
bình, chống nguy cơ chiến tranh và chạy đua vũ trang, trên nguyên tắc tôn
trọng luật pháp quốc tế, chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội
bộ của nước khác, tăng cường hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, vì hợp tác bình
đẳng và có lợi, vì hòa bình, ổn định, thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới,
xây dựng trật tự chính trị, kinh tế quốc tế dân chủ công bằng. Trong các vấn
đề khác như môi trường, quản lý luồng di cư, tăng cường phúc lợi cho phụ nữ và
trẻ em, phát triển nguồn nhân lực, cải thiện chăm sóc sức khỏe cộng đồng, an
ninh lương thực..., Việt Nam đã góp tiếng nói tích cực vào nỗ lực của hai châu
lục trong đối phó với những vấn đề phức tạp này.
Không chỉ
tích cực tham gia, Việt Nam còn đăng cai nhiều hội thảo trao đổi quan điểm và
đánh giá chung của các học giả về những vấn đề chính trị mà các thành viên
quan tâm, như “Hội thảo Chương trình an ninh toàn cầu mới và triển vọng trong
hợp tác Á-Âu”, “Hội thảo bàn tròn về hòa bình và hòa giải”.
Thực hiện
vai trò điều phối viên, Việt Nam đăng cai cuộc họp SOM châu Á tại Thành phố Hồ
Chí Minh tháng 3/2001, tại Hà Nội tháng 3 năm nay và phối hợp với các thành
viên điều hành tốt, đồng chủ trì và đóng góp vào nhiều chủ đề thảo luận tại
tất cả các cuộc họp ASEM. Việt Nam đã chú trọng tham khảo trong ASEAN, đề cao
tiếng nói chung của châu Á, cơ bản xử lý nhanh chóng và tốt các vấn đề, đưa ra
nhiều đề xuất giải quyết các vấn đề chung để duy trì tiến trình ASEM phù hợp
với lợi ích của các nước trong khu vực cũng như của ASEM.
Đóng góp
tích cực nhất của Việt Nam trên lĩnh vực chính trị phải kể đến những nỗ lực
chuẩn bị cho Hội nghị Cấp cao ASEM 5. Trong bối cảnh ASEM sau 8 năm phát triển
đã đạt những thành tựu đáng kể, song cũng đứng trước nhiều cơ hội và thách
thức mới khi cục diện quốc tế và khu vực có những chuyển biến phức tạp, xác
lập định hướng phát triển cho ASEM trong tình hình mới càng có ý nghĩa quan
trọng. Vì vậy, chủ đề mà Việt Nam đề xuất cho ASEM 5 là: “Tiến tới quan hệ đối
tác Á-Âu sống động và thực chất hơn” đã được các thành viên ASEM nhất trí tán
thành.
Việt Nam
còn tích cực tham gia kênh đối thoại giữa các Nghị viện Á-Âu như tham dự Hội
nghị Đối tác Nghị viện Á-Âu (ASEP) lần thứ nhất tháng 4/1996, ASEP 2 tại
Philíppin tháng 8/2002. Đặc biệt, với việc đăng cai tổ chức thành công ASEP 3
tại Huế tháng 3, đề ra khuôn khổ thúc đẩy hợp tác Nghị viện, Việt Nam đã để
lại dấu ấn trong hợp tác Nghị viện của hai châu lục, tạo cầu nối giữa ngoại
giao Nhà nước và ngoại giao Nghị viện.
Về lĩnh
vực kinh tế: Việt Nam đã cử đoàn tham gia tất cả các hội nghị cấp Bộ trưởng
các ngành kinh tế và tài chính, và các cuộc họp các quan chức cao cấp Thương
mại và Đầu tư trong khuôn khổ ASEM. Đặc biệt, Việt Nam còn đăng cai Hội nghị
Bộ trưởng Kinh tế (EMM) ASEM lần thứ ba tại Hà Nội tháng 9/2001. Mặc dù lần
đầu đảm nhiệm vai trò Chủ tịch EMM với chương trình nghị sự đồ sộ, nhưng Việt
Nam đã điều hành hội nghị hiệu quả, chuẩn bị tổ chức hậu cần chu đáo, bảo đảm
hội nghị đạt kết quả tốt đẹp, được các đại biểu đánh giá cao.
Trong quá
trình tham gia ASEM, Việt Nam đã cùng các nước châu Á nhấn mạnh hợp tác kinh
tế là cơ sở vững chắc cho quan hệ đối tác giữa hai châu lục. Việt Nam cho rằng
ASEM cần tính đến trình độ phát triển khác nhau giữa các nước, quan tâm thích
đáng đến sự phát triển giữa các nước thành viên, hỗ trợ các nước đang phát
triển trong chuyển giao công nghệ, giải quyết chênh lệch về kỹ thuật số, thu
hẹp khoảng cách phát triển, phát triển nguồn nhân lực, xóa đói giảm nghèo, để
giúp những nước này trở thành đối tác lâu dài, ổn định, đưa sự hợp tác ASEM
thực sự trở thành quan hệ đối tác cùng có lợi.
Đối với
các chương trình, hoạt động cụ thể của ASEM, Việt Nam đã tham gia xây dựng và
triển khai “Kế hoạch Hành động Xúc tiến đầu tư” (IPAP), “Kế hoạch hành động
thuận lợi hóa thương mại” (TFAP); cử người tham gia Nhóm chuyên gia về đầu tư
(IEG), Nhóm đặc trách ASEM về quan hệ đối tác kinh tế chặt chẽ hơn. Đặc biệt,
với vai trò là một điều phối viên kinh tế của châu Á từ năm 2000, Việt Nam đã
có những đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy hợp tác kinh tế trong ASEM, được
các nước đánh giá cao.
Trong
khuôn khổ TFAP, Việt Nam đã cùng các thành viên ASEM xây dựng Danh sách các
rào cản chung trong thương mại trên 8 lĩnh vực ưu tiên ban đầu của TFAP và một
số các rào cản chung khác.
Trong
khuôn khổ IPAP, Việt Nam đã tham gia mạng Thông tin về đầu tư ASEM, cung cấp
thông tin cập nhật về tình hình đầu tư nước ngoài, các văn bản pháp qui, chính
sách đối với các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các chương trình khuyến
khích và xúc tiến đầu tư và các dự án kêu gọi đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Trong hợp
tác về doanh nghiệp, Việt Nam đã tham gia các cuộc họp của Diễn đàn Doanh
nghiệp Á-Âu, Hội nghị Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Việt Nam chủ động đăng cai tổ
chức Diễn đàn Doanh nghiệp Á-Âu (AEBF) lần thứ 9.
Trong lĩnh
vực tài chính, Việt Nam đã tham gia đóng góp từ những Hội nghị Bộ trưởng Tài
chính đầu tiên của ASEM. Việt Nam đã tích cực trao đổi tài chính, tham gia hầu
hết các chương trình hợp tác như hợp tác chống rửa tiền, trao đổi kinh nghiệm
về quản lý nợ công... Thiết thực nhất trong hợp tác tài chính là Việt Nam đã
tận dụng được Quỹ Tín thác ASEM (AFT) cho tiến trình cải cách hệ thống tài
chính-ngân hàng và hệ thống an sinh xã hội. Tính đến nay, các bộ-ngành của
Việt Nam đã tranh thủ ATF trợ giúp triển khai 21 dự án với giá trị gần 13,35
triệu USD trên các lĩnh vực cải cách hệ thống tài chính, ngân hàng, doanh
nghiệp, xóa đói giảm nghèo và cải cách hệ thống an sinh xã hội. Trong đó, giai
đoạn I (998-2001), Việt Nam có 7 dự án nhận tài trợ từ Quỹ Tín thác với tổng
số vốn là 5,48 triệu USD; giai đoạn II (năm 2002 đến nay) là 14 dự án với tổng
giá trị tài trợ 7,87 triệu USD. Hiện một loạt các dự án đã được triển khai một
cách có hiệu quả là: “Cải cách và phát triển hệ thống ngân hàng”, “Chương
trình phát triển mạng lưới bảo đảm xã hội và tạo công ăn việc làm”, “Thúc đẩy
và cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước trong khu vực giao thông vận tải”,
“Cải cách các doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam”, “Cơ cấu lại khu vực ngân hàng”,
“Cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người nghèo”, và “Đào tạo các nhà lãnh
đạo và quản lý về quản trị doanh nghiệp”...
Việt Nam cũng đã đóng góp cho Quỹ Á-Âu (ASEF) trong các giai đoạn 1997-2001 và
2002-2006 (mỗi giai đoạn 100.000 USD).
Trong lĩnh
vực giao thông vận tải, nổi bật nhất về sự tham gia của Việt Nam là sáng kiến
“Hội thảo ASEM về tuyến đường sắt tơ lụa Á-Âu (thông qua tại Hội nghị FMM 6,
Ailen, tháng 4/2004), Việt Nam đồng tác giả với Hàn Quốc và một số nước ASEM
khác.
Đặc biệt
với tư cách điều phối viên kinh tế Châu Á trong ASEM và là chủ nhà Hội nghị
Cấp cao ASEM 5, Việt Nam đã phát huy vai trò tích cực điều phối viên các hoạt
động hợp tác kinh tế, chủ động chuẩn bị nội dung về kinh tế cho Hội nghị. Nổi
bật nhất trong nỗ lực của Việt Nam đưa hợp tác kinh tế ASEM lên một tầm cao
mới thể hiện ở sự chủ động đề xuất và chuẩn bị tích cực cho việc đưa ra một
Tuyên bố về hợp tác kinh tế ASEM trong thời kỳ mới, đưa hợp tác ASEM, nhất là
hợp tác kinh tế ASEM chặt chẽ hơn tại Cấp cao ASEM 5. Đây là một dấu ấn quan
trọng, định hình khuôn khổ hợp tác kinh tế ASEM trong thời kỳ mới, đưa hợp tác
ASEM, nhất là hợp tác kinh tế đi vào thực chất và hiệu quả hơn, phản ánh đầy
đủ quan tâm và lợi ích của tất cả các thành viên.
Về các
lĩnh vực khác: Hợp tác về văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường, quản lý, khoa
học–kỹ thuật, chuyển giao công nghệ là những lĩnh vực hợp tác khác trong ASEM.
Sự tham gia thiết thực của Việt Nam vào các hoạt động phong phú và thiết thực
này đã góp phần tạo cầu nối gia tăng hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai châu
lục.
Trong lĩnh
vực giáo dục, Việt Nam tích cực hưởng ứng các chương trình hợp tác giáo dục và
phát triển nguồn nhân lực như ủng hộ sáng kiến ASEM về Học tập suốt đời,
Chương trình học bổng kép ASEM.
Nhận thức
lao động và việc làm là một lĩnh vực hợp tác tiềm năng, thúc đẩy đào tạo nghề,
chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý... Việt Nam đã ủng hộ sáng kiến tổ chức
Hội thảo ASEM về tương lai việc làm và chất lượng lao động.
Trong hợp
tác về văn hóa, Việt Nam đã tích cực tham dự và triển khai nhiều hoạt động
trong khuôn khổ ASEM, như chủ động đề xuất sáng kiến “Bảo tồn và phát huy di
sản văn hóa trong các nước ASEM” (Pháp là đồng tác giả) được Hội nghị Cấp cao
ASEM 2 thông qua và đã được triển khai. Việt Nam đã chủ động phối hợp với các
thành viên soạn thảo và chuẩn bị nội dung cho Tuyên bố ASEM về văn hóa-văn
minh tại hội nghị ASEM 5, tạo khuôn khổ đối thoại giữa các nền văn hóa lâu đời
Á-Âu, góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau, đem lại khí thế mới cho sự phát
triển quan hệ đối tác giữa hai châu lục.
Trong lĩnh
vực môi trường, Việt Nam đã hợp tác chặt chẽ với các thành viên, góp tiếng nói
tích cực thúc đẩy quyết tâm chính trị và cam kết bảo vệ môi trường, đẩy mạnh
hợp tác trong việc chuyển giao công nghệ, hỗ trợ tài chính và kỹ thuật và phát
triển những ngành kinh tế sạch.
Về y tế,
Việt Nam đã chủ động đưa ra và được thông qua sáng kiến về "Kết hợp y dược học
cổ truyền với y dược học hiện đại trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân" và sáng
kiến về “Xử lý bệnh dịch bùng phát trong cộng đồng” (đồng tác giả với Trung
Quốc)./.
(Nguồn:
TTXVN, Bộ Ngoại giao, sách: ASEM-Diễn đàn hợp tác Á-Âu tiến tới quan hệ đối
tác sống động và thực chất hơn và các báo).